TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST | |
Ngày 10-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Vĩnh Mậu
- Ông Phạm Thành Nghĩa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Điện Ảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thanh P, (tên gọi khác: K; giới tính: Nam), sinh năm 1994 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú STH 14, đường H, Khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định; con bà: Không xác định; mẹ nuôi: Lê Thị H, sinh năm 1944; vợ: Hồ Thị Trúc Q, sinh năm: 1995 (đã ly hôn); Con: 01 đứa, sinh năm 2014, tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- - Ngày 11/5/2012, Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 28 ngày về tội “cố ý gây thương tích”.
- - Ngày 05/01/2016, Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam A từ ngày 28/7/2016.
- - Ngày 30/9/2019, Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam X1 từ ngày 11/7/2020.
- - Ngày 11/9/2023, Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Chùa G, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Anh Trần Xuân N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Chùa G, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Người làm chứng:
Bà Lê Thị H, sinh năm 1944; nơi cư trú S, đường H L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 09/8/2022, Nguyễn Quang H1, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa rủ Lê Thanh P, sinh năm 1994, đăng ký cư trú trước đây tại đường H, khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, biển kiểm soát 79N2-791.46 đi từ thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đến tỉnh Bình Định tìm những ngôi chùa để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ cùng ngày, cả hai đến chùa G thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, P đứng bên ngoài đợi sẵn, còn H1 lén đi bộ vào bên trong rồi đi lên tầng 1 chùa G thì thấy các tu sĩ đang tập trung tụng kinh tại Chính điện. Lúc này, Hải quan sát thấy phòng ở của ông Trần Xuân N, sinh năm 1996 là tu sĩ chùa G tại tầng 1 không khóa cửa nên H1 đột nhập vào trong phòng lấy trộm số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) và tiền ngoại tệ có trong ví để trong hộc bàn cạnh giường ngủ rồi cất tiền trộm được vào trong túi xách. Sau đó, H1 tiếp tục đi xuống tầng trệt và thấy cửa phòng ở của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 là trụ trì chùa G được khoá ngoài nên H1 đến khu vực phía sau khuôn viên chùa lấy 01 (một) xà beng trên đống củi gỗ rồi quay lại dùng xà beng cạy phá khóa cửa nhưng không được. Tiếp đó, H1 đi đến phòng khách khu chánh điện ở tầng trệt tiếp tục dùng xà beng cạy phá cửa phòng ở của ông Nguyễn Văn T để lén vào bên trong phòng, H1 lấy trộm 01 (một) bì thư bên trong có số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để trên giường ngủ và 04 (bốn) bì thư bên trong mỗi bì thư có số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để trong hộc tủ kệ ti vi. Khi lấy xong, H1 bỏ tất cả 05 (năm) bì thư có tiền vào túi mang theo người rồi cầm theo xà beng trở ra ngoài. Trên đường đi, H1 vứt bỏ xà beng lại trong khuôn viên chùa rồi quay ra chỗ P. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở H1 đến thuê nhà nghỉ tại đoạn ngã 3 P, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Tại phòng nhà nghỉ, H1 lấy 05 (năm) bì thư trộm được tại chùa G ra kiểm tra thì thấy trong 05 (năm) bì thư đều có xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), H1 lấy tiền ra khỏi các bì thư xếp chung thành 01 (một) xấp tiền rồi vứt bỏ 05 (năm) bì thư vào sọt rác và H1 không kiểm tra bao nhiêu tiền, cất toàn bộ số tiền trộm được tại chùa G vào trong túi mang theo người. Đến tối cùng ngày, H1 cùng P điều khiển xe mô tô và đón xe khách về nhà H1. Số tiền trộm được, H1 không xác định được đã tiêu xài hết bao nhiêu tiền, số tiền còn lại H1 cất giấu trong tủ phòng ngủ tại nhà H1. Đến ngày 14/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định làm việc với H1 và H1 thừa nhận hành vi của mình, giao nộp số tiền 76.625.400 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) và các tờ tiền ngoại tệ cho cơ quan Công an.
Ngày 11/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 05 (Năm) tờ tiền in mệnh giá 2 Dollar America, có tổng giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 231.820 đồng (hai trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi đồng).
- - 04 (Bốn) tờ tiền in mệnh giá 1 Dollar America, có tổng giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 92.728 đồng (chín mươi hai nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền in mệnh giá 20 Dollar HongKong, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 59.040 đồng (năm mươi chín nghìn không trăm bốn mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 1000 Won Korea, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 18.000 đồng (mười tám nghìn đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5 Ringgit Malaysia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 26.175 đồng (hai mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 20 Rupees India, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 5.840 đồng (năm nghìn tám trăm bốn mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10 Rupees India, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 2.920 đồng (hai nghìn chín trăm hai mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Rupees SriLanka, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 3.250 đồng (ba nghìn hai trăm năm mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 1 Yuan Trung Quốc, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 3.447 đồng (ba nghìn bốn trăm bốn mươi bảy đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100 Riels Cambodia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 600 đồng (sáu trăm đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100 Riels Cambodia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 600 đồng (sáu trăm đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Piso Philippines, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 20.950 đồng (hai mươi nghìn chín trăm năm mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10 Tugrik Mongolia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 70 đồng (bảy mươi đồng).
- - 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5 Dollars Australia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 79.380 đồng (bảy mươi chín nghìn ba trăm tám mươi đồng).
Tổng cộng 544.820 đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi đồng).
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng Q1, mã số hiệu S5 761957: đã hết giá trị lưu hành và 01 tờ tiền mệnh giá 100, mã số hiệu JW 99991972: không xác định ngân hàng phát hành nên không định giá được.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:
- - 01 xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46;
- - 01 hợp đồng mua bán xe mô tô 79N2-791.46 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 79N2-791.46;
- - 01 áo khoác da màu đen, size M; 01 áo khoác vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh trắng, có mạc TCS; 01 túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng; 01 đôi giày màu đen;
- - 130 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng Ngân hàng N1 (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện T);
- - 01 ví da màu đen, bên trong ví có 22 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng Ngân hàng N1, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng Ngân hàng N1, 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng Ngân hàng N1, 06 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng Ngân hàng N1, 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng Ngân hàng N1 (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện T);
- - 05 tờ tiền mệnh giá 2 Dollar America; 04 tờ tiền mệnh giá 1 Dollar America; 01 tờ tiền mệnh giá 20 Dollar Hongkong; 01 tờ tiền mệnh giá 1000 Won Korea; 01 tờ tiền mệnh giá 5 RM Malaysia; 01 tờ tờ tiền mệnh giá 20 India; 01 tờ tiền mệnh giá 10 India; 01 tờ tiền mệnh giá 50 Srilanka; 01 tờ tiền mệnh giá 5 Dollar Australia; 02 tờ tiền mệnh giá 100 đồng Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 200 đồng Ngân hàng N1; 02 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 01 Yuan nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; 01 tờ tiền mệnh giá 100 Ngân hàng C năm 2001; 01 tờ tiền mệnh giá 100 Ngân hàng C năm 2014; 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng Q1; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 100 (giống tiền Tết của Trung Quốc); 01 tờ tiền mệnh giá 50 Piso P; 01 tờ tiền mệnh giá 10 MohroJbahk (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện T);
Ngày 15/6/2023, Toà án nhân dân huyện Tuy Phước đã xét xử đối với Nguyễn Văn H2 và tuyên xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (Một) xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp;
- + 01 (Một) áo khoát da màu đen, size M;
- + 01 (Một) áo khoát vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh.
- + 01 (Một) quần jean dài màu xang trắng, có mạc TCS.
- + 01 (Một) túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp;
- + 01 (Một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng;
- + 01 (Một) đôi giày màu đen.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị X:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46.
- + 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 133026 mang tên Nguyễn Văn K1, biển số đăng ký 79N2-791.46.
Trả lại cho anh Trần Xuân N số tiền và ngoại tệ.
Về dân sự: Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường 210.000.000 đồng, ông Trần Xuân N yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng. Ngày 15/6/2023, Toà án nhân dân huyện Tuy Phước đã tuyên buộc bị cáo Nguyễn Quang H1 phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng), được trừ vào số tiền 76.625.400 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) và bồi thường cho anh Trần Xuân N số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 07-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã nêu và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập. Bị cáo xin Tòa xử phạt nhẹ.
Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
- - Áp dụng khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh P từ 07 năm đến 08 năm tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết tại Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 15-6-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- - Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết tại Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 15-6-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lê Thanh P nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Lê Thanh P có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận toàn bộ sự việc phạm tội giống như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 09/8/2022, Nguyễn Quang H1 rủ bị cáo đi từ thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đến tỉnh Bình Định tìm những ngôi chùa để trộm cắp tài sản. Vào tối ngày 09/8/2022 tại chùa G thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, cả hai đã lén lút chiếm đoạt số tiền 12.000.000 đồng cùng nhiều mệnh giá tiền ngoại tệ có giá trị 544.820 đồng của anh Trần Xuân N và lén lút chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T. Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Quang H1 và bị cáo Lê Thanh P chiếm đoạt là 222.544.820 đồng. Ngày 15-6-2023, Toà án nhân dân huyện Tuy Phước đã xét xử đối với Nguyễn Quang H1.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thanh P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương. Do đó, Cáo trạng cũng như lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo đã nhiều lần bị kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để làm công dân tốt. Bị cáo có đủ sức khỏe nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân đã tiếp tục phạm tội, sau khi phạm tội còn bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra nên cần phải xử phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn nên cần được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết tại Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 15-6-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; nếu bị cáo và Nguyễn Quang H1 có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ việc dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
[5] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết tại Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 15-6-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
[5] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết đánh giá về nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về trách nhiệm dân sự phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2023.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Lê Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Tú |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Phong về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự
