Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 10-01-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thị Ngọc Phượng

Bà Lưu Thị Mỹ Linh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát Viên

Ngày 10-01-2024, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/TLST – HS, ngày 29-11-2023, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST – HS ngày 25-12-2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 1992, tại huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Châu Thị B; anh, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ tư; vợ tên Huỳnh Thị Yến N, có 01 người con sinh năm 2013; tiền án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28-9-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Phan Văn N1, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Ông Phan Văn B1, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn G, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

Người làm chứng: Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1994, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 24-5-2023, Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô biển số 67H – 019.52 lưu thông trên tuyến đường Quốc lộ N1 theo hướng từ xã V - xã L. Khi đến km 151+520 thuộc ấp V, xã L, huyện T, K điều khiển xe ô tô cách lề đường bên phải khoảng 01 mét, thiếu quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn nên phần đầu thanh cản dưới bên phải xe ô tô va chạm với phần bên trái biển số xe mô tô 67N1-294.63 do bà Trần Thị T điều khiển cùng chiều phía trước, làm bà T ngã xuống đường và bị bánh xe ô tô phía sau bên phải cán qua đầu chết tại hiện trường.

Ngày 28-9-2023, K bị khởi tố để điều tra và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vật chứng thu giữ:

- Xe ô tô biển số 67H-019.52, hiệu HINO, màu trắng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA-0683602; 01 giấy chứng nhận bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô (đã trả cho chủ sở hữu);

- 01 xe mô tô biển số 67N1-294.63, hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen (đã trả cho chủ sở hữu); 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] tên Nguyễn Văn K;

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 176 ngày 24-5-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh A, ghi nhận tử thi Trần Thị T, sinh năm 1966:

Dấu hiệu chính qua giám định: Sây sát da + bầm máu toàn vùng mặt trái; chảy máu lỗ tai hai bên; biến dạng đầu mặt dạng bẹp; vỡ toác hộp sọ. Phòi mất mô não. Nguyên nhân chết: Vỡ toác hộp sọ, phòi mất mô não.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường tiền mai táng, sửa chữa xe cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 80.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bà T, ông N1 thừa nhận đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo 80.000.000 đồng, ông N1 không có yêu cầu bồi thường thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKSTT-HS ngày 29-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn K như nội dung cáo trạng, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 10-01-2024.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bà T là ông Phan Văn N1 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại 80.000.000 đồng, người đại diện không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Đối với Phan Văn G có hành vi gửi xe mô tô 67N1-294.63 tại nhà của bà Trần Thị T, do G không biết việc bà T tự ý sử dụng xe mô tô khi không có giấy phép lái xe, dẫn đến tai nạn làm bà T chết. Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với hành vi giao xe của G là có căn cứ.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số [...]. Đây là giấy phép hợp pháp của bị cáo, đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, cũng phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cũng như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định tử thi, biên bản kiểm tra nồng độ cồn, Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy và các chứng cứ khác thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 24-5-2023, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 67H – 019.52 lưu thông trên tuyến đường Q, khi đến km 151+520 thuộc ấp V, xã L, huyện T, bị cáo điều khiển xe ô tô thiếu quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn nên phần đầu thanh cản dưới bên phải xe ô tô va chạm với phần bên trái biển số xe mô tô 67N1-294.63 do bà Trần Thị T điều khiển cùng chiều phía trước, hậu quả làm bà T ngã xuống đường và bị bánh xe ô tô phía sau bên phải cán qua đầu tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội khi có ý thức rõ ràng, dù biết rằng hành vi lái xe tham gia giao thông thiếu quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn là trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời sẽ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, nhưng do bị cáo không quan sát, không làm chủ tay lái, không đảm bảo khoảng cách an nên đã gây tai nạn, hậu quả làm bà T tử vong.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của bà T mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người lao động chính trong gia đình nuôi vợ và con còn nhỏ.

Vì vậy, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng hình phạt tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Do đó, không cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo chỉ sống bằng nghề lái xe, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Phan Văn N1 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại 80.000.000 đồng, người đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét.

Đối với Phan Văn G có hành vi gửi xe mô tô 67N1-294.63 tại nhà của bà Trần Thị T, do G không biết việc bà T tự ý sử dụng xe mô tô khi không có giấy phép lái xe, dẫn đến tai nạn làm bà T chết. Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với hành vi giao xe của G là có căn cứ.

[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số [...]. Đây là giấy phép hợp pháp của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 10-01-2024 (ngày mười tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] đứng tên Nguyễn Văn K.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-12-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện T).

Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND huyện;
  • - THADS huyện;
  • - CA huyện;
  • - Sở tư pháp AG;
  • - THAHS;
  • - BC;
  • - ĐS;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger