|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-01-2024 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thanh
- Ông Nguyễn Quang Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 356/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, Quyết định hoãn phiên toà số: 68A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị P, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh L, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lý Thị P trình bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Mạnh L vào ngày 28/03/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.
Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, anh L hay chơi bời dẫn đến nợ nần, không quan tâm, chăm sóc gì cho vợ con, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh L không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 07/2023, không quan tâm tới nhau nữa. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh L nên chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh L.
Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là Đỗ Lý Anh T, sinh ngày 18/01/2016. Hiện cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng với chị. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Bản thân chị có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con nên chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Mạnh L đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh L không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi anh L cư trú xác định: Chị P, anh L đăng ký kết hôn năm 2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng với bà nội của anh L và đi làm công nhân ở Thái Nguyên. Quá trình chung sống, vợ chồng chị P, anh L có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh L ham chơi, không chịu khó làm ăn dẫn đến nợ nần nhiều. Chị P đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn Đ, xã Đ để ở, còn anh L đi làm xa thi thoảng mới về thăm nhà, hiện anh L và chị P đang sống ly thân.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn là chị Lý Thị P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Đỗ Mạnh L vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã chấp hành, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị P được ly hôn anh L; về con chung: Giao con chung Đỗ Lý Anh T, sinh ngày 18/01/2016 cho chị P nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: Do chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lý Thị P làm đơn khởi kiện ly hôn anh Đỗ Mạnh L, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
[3] Sự vắng mặt của các đương sự: Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
[4] Về quan hệ hôn nhân:
Chị P và anh L đăng ký kết hôn ngày 28/03/2014 tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định hôn nhân giữa chị P và anh L là hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị P xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần, không quan tâm đến vợ con; vợ chồng đã ly thân nhau được một thời gian, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị P xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
HĐXX thấy lời khai của chị P phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương, do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị P được ly hôn anh L.
[5] Về quan hệ con chung: Chị P và anh L có 01 con chung là Đỗ Lý Anh T, sinh ngày 18/01/2016. Chị P có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là cháu T sau khi ly hôn. HĐXX thấy rằng: Chị P có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện nuôi con; bản thân cháu T có nguyện vọng được ở với chị P. Do đó, cần giao con chung cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu.
Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[6] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Thị P ly hôn anh Đỗ Mạnh L.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Đỗ Lý Anh T, sinh ngày 18/01/2016 cho chị Lý Thị P trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về án phí: Chị Lý Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007451 ngày 01/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị P đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lý Thị P, anh Đỗ Mạnh L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Anh Đỗ Mạnh L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đỗ Mạnh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Mai Lan |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
