|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 10/01/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hữu Bình;
- Ông Lê Xuân Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Lê Như Tuấn A, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T (đã chết) và con bà Lê Ngọc A, sinh năm 1948 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự: Tại Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC ngày 17/11/2020, bị Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt và Quyết định số 26/QĐ-XPVPHC ngày 24/7/2023, bị Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023 cho đến nay; bị cáo mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Anh K, sinh năm 1982, tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Tổ S, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc M sinh năm 1959 (đã chết) và con bà Trương Thị Mỹ T, sinh năm 1960; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Hồng O, sinh năm 1982 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con Nguyễn Anh K1, sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự tại Quyết định số 25/QĐ-XPVPHC ngày 24/7/2023, bị Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023 cho đến nay; bị cáo mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1963 và con bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án tại Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 11/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù giam ngày 09/3/2023, chưa xóa án tích; tiền sự: Có 03 tiền sự: Tại Quyết định số 35/QĐ-XPHC ngày 31/8/2012, bị Công an huyện H xử phạt về hành vi “Cố ý gây thương tích” với mức phạt 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt và Quyết định số 26/QĐ-XPHC ngày 12/4/2021, bị Công an phường A, thị xã B xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt và Quyết định số 27/QĐ-XPVPHC ngày 24/7/2023, bị Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt; nhân thân: Tại Bản án số 107/2017/HS-ST ngày 28/6/2017, bị Tòa án nhân dân quân G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí vào ngày 19/3/2019, đã xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023 cho đến nay; bị cáo mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Công ty H; địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo ủy quyền ông Bùi Văn K1, sinh năm 1963; đăng ký thường trú: Khu phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ L, khu phố T, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước (có mặt tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978; nơi đăng ký thường trú: Ấp Z, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nơi tạm trú: Khi phố X, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ L, khu phố T, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước (có mặt tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Số V, khu phố H, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Như Tuấn A, Nguyễn Anh K và Nguyễn Văn T là bạn và cả ba là đối tượng nghiện ma túy, trong thời gian từ tháng 6/2023 đến ngày 09/8/2023, cả ba đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản của người dân tại địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương và huyện H, tỉnh Bình Phước để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
1. Vụ thứ nhất: Do Nguyễn Văn T thực hiện
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 26/6/2023, T đi bộ từ nhà theo hướng đường Quốc lộ 13 đến chợ K thuộc thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước. Khi T đi bộ đến phòng khám P thuộc tổ A, khu phố L, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước thì nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng - đen, biển số 93N4-5269, của ông Nguyễn Văn O dựng trước phòng khám và cắm sẵn chìa khóa trên xe. Quan sát thấy không có người trông coi nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài. Liền đó, T đi đến vị trí để xe mô tô mở khóa xe và điều khiển xe tẩu thoát. Khi đi đến khu vực thuộc phường L, thị xã B, T gặp Trần Quốc N (tên thường gọi là “C”), sinh năm 2001, nơi thường trú Tổ L, khu phố P, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước để bán xe mô tô trên. Qua thỏa thuận, N đồng ý mua xe của T với giá 1.000.000 đồng và T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, ông O phát hiện bị mất xe mô tô nên đã trình báo Công an. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an thị trấn K đã tiến hành các hoạt động điều tra và nghi vấn T có liên quan đến việc ông O bị mất tài sản nên mời T về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTTTHS ngày 02/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng-đen, biển số 93N4-5269, số khung: RLCS5C640AY357079, số máy: 5C64-357086, có trị giá 3.150.000 đồng.
Trong quá trình tuần tra địa bàn, Công an xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước, phát hiện một đối tượng điều khiển xe mô tô 93N4-5269 có đặc điểm như phương tiện Công an huyện H, tỉnh Bình Phước truy tìm theo Quyết định truy tìm số 60/QĐ-TT ngày 15/9/2023 nên yêu cầu đối tượng dừng xe kiểm tra; tuy nhiên đối tượng không chấp hành mà điều khiển xe bỏ chạy, sau đó để xe lại trên đường rồi bỏ trốn nên Công an xã T đã tạm giữ và bàn giao cho Công an huyện H sau đó chuyển cho Công an huyện D giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra xác định xe mô tô biển số 93N4-5269 do ông Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ L, khu phố T, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên sở hữu. Ngày 26/6/2023, ông L cho cha ruột là ông O mượn làm phương tiện đi khám bệnh thì bị mất trộm.
Ngày 07/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26/QĐ-ĐTTH giao trả xe mô tô biển số 93N4-5269 cho ông L. Hiện, ông L đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.
Đối với Trần Quốc N có hành vi mua xe mô tô biển số 93N4-5269 do T trộm cắp mà có. Do hiện tại, N bỏ đi khỏi địa phương nhưng không trình báo, hiện N đi đâu làm gì thì địa phương và gia đình không rõ. Do ngoài lời khai của T là chứng cứ duy nhất trong vụ án nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có”, khi nào có đủ căn cứ sẽ làm rõ xử lý sau.
T thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên buộc T phải giao nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Vụ thứ hai: Do Nguyễn Anh K và Lê Như Tuấn A thực hiện
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 08/8/2023, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 70L2-1989 chở Tuấn A, đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; địa chỉ Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, thấy nhà ông H khóa cửa không có người trông coi nên Tuấn A và K đã lén lút vào sân nhà lấy trộm 01 máy cắt sắt, model: 450, Pole 50Hz/2P, moter: 1-3 HP, Volts 220/380, MFG.No: 199, để ở mái hiên trước nhà rồi đem đến vựa ve chai tại Khu phố X, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước bán cho Lê Thị T1 (là chủ vựa ve chai) được số tiền 1.000.000 đồng, số tiền bán được K và Tuấn A đã tiêu xài hết.
Sau khi ông H phát hiện bị mất tài sản, đã trình báo Công an xã M để giải quyết. Qua rà sát xác minh, Công an xã M đã xác định được và thu hồi tài sản 01 máy cắt sắt, model: 450, Pole 50Hz/2P, moter: 1-3 HP, Volts 220/380, MFG.No: 199, tại cửa hàng thu mua phế liệu do bà T1 làm chủ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng kết luận: 01 máy cắt sắt, model: 450, Pole 50Hz/2P, moter: 1-3 HP, Volts 220/380, MFG.No: 199 có trị giá là 2.500.000 đồng.
Ngày 01/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Dầu Tiếng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 24/QĐ-ĐTTT giao trả máy cắt sắt model: 450, Pole 50Hz/2P, moter: 1-3 HP, Volts 220/380, MFG.No: 199 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông H; ông H nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Bà T1 có hành vi mua máy cắt sắt do K và Tuấn A trộm cắp nhưng do tại thời điểm mua máy cắt sắt, bà T1 không biết đây là tài sản do K và Tuấn A trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà T1. Quá trình điều tra, bà T1 không yêu cầu K và Tuấn A phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bà T1 nên ghi nhận.
3. Vụ thứ ba: Do Nguyễn Văn T Nguyễn Anh K và Lê Như Tuấn A thực hiện
Vào khoảng 09 giờ ngày 09/8/2023, Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Wave, màu sơn xanh, biển số 70L2-1989 chở T và K từ huyện L, tỉnh Bình Phước đến khu vực bãi cát của Công ty H thuộc ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương thì cả 03 đối tượng rẽ vào để nghỉ chân. Lúc này, K và Tuấn A phát hiện có một máy mô tơ có mã lực 20 Hp, tần số 60 Hz trên băng chuyền cất cách mặt đất khoảng 03-04 mét (băng chuyền đang ngưng hoạt động). Quan sát xung quanh không có ai trông coi, K kêu Tuấn A và T lấy trộm máy mô tơ đem đi bán lấy tiền tiêu xài, tất cả đồng ý. Liền đó, K là người sử dụng cái cờ lê và kìm bấm có mang theo sẵn trong túi xách của Tuấn A để tháo ốc tán gắn trên máy mô tơ, còn T và Tuấn A ngồi cảnh giới. Khoảng hơn 30 phút sau, K tháo xong các ốc tán rồi cả 03 cùng nhau khiêng máy mô tơ bỏ lên xe mô tô biển số 70L2-1989 của Tuấn A để Tuấn A chở máy mô tô đem đi tìm nơi tiêu thụ. Riêng T và K ở lại tại đây chờ Tuấn A đi bán mô tơ xong quay lại rước về. Trong quá trình chở máy mô tơ đi tiêu thụ thì Tuấn A bị Công an xã M phát hiện bắt giữ. Sau đó mở rộng điều tra Công an xã M đã bắt giữ T và K và đưa cả 03 cùng tang vật về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐG ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng kết luận: 01 máy mô tơ có mã lực 20 Hp, tần số 60 Hz, xuất xứ Trung Quốc, có trị giá là 6.000.000 đồng.
Ngày 01/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Dầu Tiếng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 24/QĐ-ĐTTT giao trả máy mô tơ nói trên cho ông Bùi Văn K1, sinh năm 1963, ngụ tại khu phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương là đại diện chủ sở hữu hợp pháp. Hiện tại, ông K1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng mà các bị cáo sử dụng và liên quan vào việc thực hiện hành vi phạm tội gồm: 01 mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 30 cm (đã qua sử dụng); 01 chiếc kìm bằng kim loại, dài khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 túi xách bằng vải, màu đen, chiều dài 38 cm, chiều cao 27 cm (đã qua sử dụng); 01 sợi dây ràng, màu vàng chấm đen, dài khoảng 1,35 m, 01 đầu có móc bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 con dao bằng kim loại dài 31 cm, có cán dao màu vàng, dài khoảng 12 cm, lưỡi dao kim loại, màu trắng dài 19 cm; 01 áo sơ mi tay dài, màu xanh nhạt; 01 quần jean dài, màu xanh đen.
Quá trình điều tra xác định, xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh đen, biển số 70L2-1989; số máy: 99105354, số khung: Không rõ; bị cáo Tuấn A sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm vụ thứ 2 và vụ thứ 3 là do ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965, địa chỉ Số V, khu phố H, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đứng tên sở hữu. Ông Đ khai báo vào khoảng năm 2011, ông Đ đã bán chiếc xe này cho một người nam không rõ nhân thân, lai lịch tại thành phố T với giá 2.000.000 đồng nhưng không làm giấy mua bán xe theo quy định. Đồng thời, bị cáo Tuấn A khai nhận đã mua chiếc xe mô tô biển số 70L2-1989 tại cửa hàng thu mua phế liệu nhưng do đã lâu không rõ địa chỉ, khi mua xe không có giấy đăng ký và chỉ thỏa thuận bằng lời nói không làm giấy tờ mua bán. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng thông tin truy tìm trên phương tiện báo chí theo quy định. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có ai đến nhận lại, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Dầu Tiếng đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng để bảo quản, xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS-DT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Lê Như Tuấn A, Nguyễn Anh K và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố như Cáo trạng đối với các bị cáo Lê Như Tuấn A, Nguyễn Anh K và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
- Về hình phạt:
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Như Tuấn A mức phạt từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K mức phạt từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.
- Trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo có hành vi chiếm đoạt đã được thu hồi và trao trả lại cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết.
Bà T1 đã dùng số tiền 1.000.000 đồng để mua máy cắt sắt là vật chứng của vụ án, vật chứng đã thu hồi trao trả cho bị hại. Bà T1 không yêu cầu bị cáo K và Tuấn A phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bà T1 nên ghi nhận.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo Tuấn A và K thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên buộc bị cáo Tuấn A và K phải giao nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.
- + Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo T thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên buộc T phải giao nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.
- + Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh đen, biển số 70L2-1989; số máy: 99105354, số khung: Không rõ do đây là phương tiện các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm.
- + Đề nghị tịch thu tiêu hủy các đồ vật, tài liệu, vật chứng mà các bị cáo sử dụng và liên quan vào việc thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 30 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bằng kim loại, dài khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) túi xách bằng vải, màu đen, chiều dài 38 cm, chiều cao 27 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây ràng, màu vàng chấm đen, dài khoảng 135 m, 01 đầu có móc bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, có cán dao màu vàng, dài khoảng 12 cm, lưỡi dao kim loại, màu trắng dài 19 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi tay dài, màu xanh nhạt (đã qua sử dụng); 01 (một) quần jean dài, màu xanh đen (đã qua sử dụng).
Tại phiên tòa, các bị cáo Tuấn A, K và T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, thể hiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, bị hại ông O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông L xác định đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông K1 là người đại diện hợp pháp của bị hại Công ty H, bị hại ông H yêu cầu Tòa án xét xử về hình phạt theo quy định của pháp luật, đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T1 không yêu cầu các bị cáo Tuấn A và K phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Tuấn A, bị cáo K, bị cáo T bị hại ông O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L không tranh luận gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:
- - Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 26/6/2023, tại khu phố L, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Phước, bị cáo T có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 93N4-5269 có trị giá 3.150.000 đồng của ông Nguyễn Văn O đem bán được 1.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.
- - Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 08/8/2023, tại Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, hai bị cáo Tuấn A và K điều khiển xe mô tô biển số 70L2-1989 thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy cắt sắt có trị giá 2.500.000 đồng của ông Nguyễn Văn H đem bán được 1.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.
- - Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 09/8/2023, tại Ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, cả ba bị cáo Tuấn A, K và T điều khiển xe mô tô biển số 70L2-1989 thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy mô tơ có trị giá 6.000.000 đồng của Công ty H, khi bị cáo Tuấn A đem đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ.
Lời khai nhận của các bị cáo Tuấn A, K và T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Cáo trạng số 87/CT-VKS-DT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố đối với ba bị cáo Tuấn A, K và T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi: Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của các bị cáo Tuấn A, K và T đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội tại đia phương.
[4] Xét chủ thể, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo Tuấn A, K và T thấy rằng, các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện nên phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng đên tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
[5] Xét tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo thì vụ án có tính đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, không có tổ chức chặt chẽ cho từng thành viên, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bất chấp hậu quả. Tuy nhiên, để cá thể hóa hình phạt cho từng bị cáo thì phải xem xét vai trò cụ thể của mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm:
[5.1] Đối với Lê Như Tuấn A: Bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Xuất phát từ việc lười biếng không nghề nghiệp, nghiện ma túy, không có tiền tiêu xài mà bị cáo đã cùng với hai bị cáo K và T lén lút lấy trộm tài sản của bị hại nhằm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo Tuấn A cùng với bị cáo K thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy cắt sắt của ông Nguyễn Văn H có trị giá 2.500.000 đồng theo Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng. Bị cáo Tuấn A cùng với bị cáo K và bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy mô tơ của Công ty H có trị giá 6.000.000 đồng theo Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐG ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng. Bị cáo có 02 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” và hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không nhận thức được cái sai của mình. Hành vi của bị cáo Tuấn A thể hiện sự xem thường pháp luật, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và bị truy tố, đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
[5.2] Đối với Nguyễn Anh K: Bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Xuất phát từ việc nghiện ma túy và có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không nhận thức được cái sai của mình; bị cáo là kẻ lười biếng không nghề nghiệp, không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cùng với hai bị cáo Tuấn A và T lén lút lấy trộm tài sản của bị hại nhằm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo K cùng với bị cáo Tuấn A thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy cắt sắt của ông Nguyễn Văn H có trị giá 2.500.000 đồng theo Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng. Bị cáo K cùng với bị cáo Tuấn A và bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy mô tơ của Công ty H có trị giá 6.000.000 đồng theo Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐG ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng. Hành vi của bị cáo K thể hiện sự xem thường pháp luật, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và bị truy tố, đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
[5.3] Đối với Nguyễn Văn T: Bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Cũng như bị cáo Tuấn A và bị cáo K, xuất phát từ việc lười biếng không nghề nghiệp, nghiện ma túy, không có tiền tiêu xài mà bị cáo đã cùng với hai bị cáo Tuấn A và K lén lút lấy trộm tài sản của bị hại nhằm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo T một mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 93N4-5269 của ông Nguyễn Văn O có trị giá 3.150.000 đồng theo Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTTTHS ngày 02/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Bình Phước. Bị cáo T cùng với bị cáo Tuấn A và bị cáo K thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy mô tơ của Công ty H có trị giá 6.000.000 đồng theo Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐG ngày 16/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng. Bị cáo T có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; có 03 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích”, hành vi “Trộm cắp tài sản” và hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa đóng phạt và có nhân thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo T thể hiện sự xem thường pháp luật, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố và Tòa án đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
[6] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trên địa bàn huyện D nói riêng và cả nước nói chung nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù để các bị cáo có điều kiện được giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo, mỗi bị cáo tham gia thực hiện 02 lần phạm tội, trị giá tài sản mỗi lần phạm tội là khác nhau, nhân thân của các bị cáo khác nhau nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt khác nhau theo Điều 58 Bộ luật Hình sự.
[7] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Các bị cáo thuộc trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T có 01 tiền án về tội “Trôm cắp tài sản” nên lần phạm tội này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[9] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Riêng mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là chưa phù hợp với hành vi khách quan, trị giá tài sản bị chiếm đoạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung vụ án xảy ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
[11] Ý kiến của bị hại ông O và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông L tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án xảy ra nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
[12] Ý kiến của ông K1 đại diện hợp pháp của bị hại Công ty H, ông H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T1 tại văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt là phù hợp với nội dung vụ án xảy ra nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
[13] Trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo có hành vi chiếm đoạt đã được thu hồi và trao trả lại cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T1 không yêu cầu bị cáo K và bị cáo Tuấn A phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bà T1 nên ghi nhận.
[14] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đại diện Viện kiểm sát đề nghị hai bị cáo Tuấn Anh và K phải nộp số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng (số tiền bà T1 đã dùng để mua vật chứng vụ án là máy cắt sắt của ông H) để sung vào ngân sách Nhà nước. Hội đồng xét xử thấy rằng, số tiền này là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T1, quá trình tố tụng bà T1 tự nguyện không yêu cầu bị cáo K và bị cáo Tuấn A phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bà T1 nên ghi nhận.
- - Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên buộc bị cáo T phải giao nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Quá trình thực hiện tội phạm, các bị cáo sử dụng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh đen, biển số 70L2-1989; số máy: 99105354, số khung: Không rõ. Quá trình tố tụng, cơ quan tố tụng đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả, do đây là phương tiện các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các đồ vật, tài liệu, vật chứng mà các bị cáo sử dụng và liên quan vào việc thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 30 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bằng kim loại, dài khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) túi xách bằng vải, màu đen, chiều dài 38 cm, chiều cao 27 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây ràng, màu vàng chấm đen, dài khoảng 135 m, 01 đầu có móc bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, có cán dao màu vàng, dài khoảng 12 cm, lưỡi dao kim loại, màu trắng dài 19 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi tay dài, màu xanh nhạt (đã qua sử dụng); 01 (một) quần jean dài, màu xanh đen (đã qua sử dụng).
[15] Án phí: Các bị cáo Tuấn A, K và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47; Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Như Tuấn A, Nguyễn Anh K và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Lê Như Tuấn A mức án 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K mức án 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2023.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- - Tài sản các bị cáo có hành vi chiếm đoạt đã được thu hồi và trao trả lại cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T1 không yêu cầu bị cáo K và bị cáo Tuấn A phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), đây là sự tự nguyện của bà T1 nên ghi nhận.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh đen, biển số 70L2-1989; số máy: 99105354, số khung: Không rõ.
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 30 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bằng kim loại, dài khoảng 25 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) túi xách bằng vải, màu đen, chiều dài 38 cm, chiều cao 27 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây ràng, màu vàng chấm đen, dài khoảng 135 m, 01 đầu có móc bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, có cán dao màu vàng, dài khoảng 12 cm, lưỡi dao kim loại, màu trắng dài 19 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi tay dài, màu xanh nhạt (đã qua sử dụng); 01 (một) quần jean dài, màu xanh đen (đã qua sử dụng).
(Các tài sản trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
- - Bị cáo Lê Như Tuấn A phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Anh K phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 10/01/2024).
- - Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Đồng |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Như Tuấn A và đồng phạm "Trộm cắp tài sản"
