|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST
Ngày: 09-7 – 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hà và bà Hoàng Thị Len
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Đỗ Thị Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A; Địa chỉ: Số T Tòa nhà G, số C H, phường Ô, Quận Đ, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Mạnh K - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q – Trưởng ban xử lý nợ; Người được ủy quyền lại: Ông Lê Xuân T – Cán bộ ngân hàng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1982 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Đều có địa chỉ tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Ông T, anh V có mặt; chị H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ xuất trình và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H vay tín dụng của Ngân hàng TMCP A (Ngân hàng A) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 với nội dung cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 600.000.000 đồng;
- Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh;
- Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày 18/08/2021 đến ngày 18/08/2022;
- Lãi suất vay: 8,5%/năm; Lãi suất cố định trong suốt thời gian vay; Lãi suất quá hạn: Khi Bên vay không trả nợ gốc đúng hạn, ngoài khoản tiền lãi vay trong hạn phải trả, bên vay phải chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn đối với khoản lãi vay không trả đúng hạn.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Hợp đồng tín dụng nêu trên, anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H (gọi tắt là vợ chồng anh V chị H) đã ký Hợp đồng thế chấp số 5352/21/TC-TT/XXXI ngày 18/08/2021 với Ngân hàng A. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 16, tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 995602, Số vào sổ cấp GCN: CS 030089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 08/06/2020 cho anh V chị H.
Trong quá trình vay vốn, vợ chồng anh V chị H mới trả lãi cho Ngân hàng A số tiền lãi là 21.404.037 đồng. Ngân hàng A đã nhiều lần làm việc với vợ chồng anh V, yêu cầu trả nợ toàn bộ khoản vay nhưng đến nay vợ chồng anh V vẫn không thực hiện.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (09/7/2024), vợ chồng anh V chị H còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền là 787.137.060 đồng, trong đó nợ gốc là 600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.746.649 đồng, lãi quá hạn là 183.390.411 đồng.
Để tạo điều kiện cho vợ chồng anh H, chị V trả nợ khoản vay trên, Ngân hàng A cho anh H chị V trả nợ trong thời hạn 01 năm, theo đó 06 tháng đầu, tính từ ngày 09/7/2024 anh H chị V trả 300.000.000 đồng, tiền nợ gốc, 06 tháng tiếp theo trả hết tiền nợ gốc 300.000.000 đồng. Sau khi trả hết nợ gốc là 600.000.000 đồng (trong vòng 01 năm, tính từ ngày 09/7/2024), anh H và chị V phải trả cho Ngân hàng A toàn bộ số tiền nợ lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 cho đến khi thanh toán xong.
Trong trường hợp anh V chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng A có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 16, tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 995602, Số vào sổ cấp GCN: CS 030089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 08/06/2020 mang tên anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng anh V chị H với Ngân hàng A. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết các khoản nợ thì vợ chồng anh V chị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh V thừa nhận vợ chồng anh có vay tiền của Ngân hàng A. Thông tin các khoản vay, việc thế chấp tài sản và quá trình trả nợ như Ngân hàng trình bày là đúng. Do vợ chồng có nhu cầu về vốn để kinh doanh hàng tạp hóa, lắp đặt điều hòa, anh chị đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A với số tiền vay 600.000.000 đồng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 18/08/2021 đến ngày 18/08/2022. Tính đến thời điểm ngày 09/7/2024, vợ chồng anh chị còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền là 787.137.060 đồng, trong đó nợ gốc là 600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.746.649 đồng, lãi quá hạn là 183.390.411 đồng.
Trong quá trình Ngân hàng A khởi kiện đòi tiền nợ, anh đã thông báo cho vợ là chị Nguyễn Thị H, hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc biết, vợ chồng thống nhất thu xếp tài chính để trả nợ toàn bộ khoản vay trên nhưng đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để anh chị thu xếp trả nợ, vì công việc làm ăn không thuận lợi, con nhỏ của anh chị mới chết vì đuối nước nên anh đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng anh lộ trình trả nợ trong vòng 01 năm (tính từ ngày 09/7/2024) đối với khoản nợ gốc, sau khi trả hết số nợ gốc 600.000.000 đồng, anh chị tiếp tục trả nợ phần lãi theo như hợp đồng đã ký kết.
Tại phiên tòa: Đại diện của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc anh V, chị H thanh toán toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng đã ký kết. Đồng ý cho anh V chị H trả nợ trong thời hạn 01 năm, theo đó 06 tháng đầu, tính từ ngày 09/7/2024 anh H chị V trả 300.000.000 đồng tiền nợ gốc, 06 tháng tiếp theo trả hết tiền nợ gốc 300.000.000 đồng. Sau khi trả hết nợ gốc là 600.000.000 đồng (trong vòng 01 năm, tính từ ngày 07/7/2024), anh H và chị V phải trả trả cho Ngân hàng A toàn bộ số tiền nợ lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 cho đến khi thanh toán xong. Nếu anh V chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng A có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp như trong hợp đồng đã ký kết
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H đã xuất cảnh sang Hàn Quốc và vắng mặt tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn V đã cam kết sẽ giao lại các văn bản, tài liệu của Tòa án cho chị H, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A, cụ thể: Buộc vợ chồng anh V, chị H phải trả cho Ngân hàng A tổng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 787.137.060 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 600.000.000 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 3.746.649 đồng, nợ lãi quá hạn là 183.390.411 đồng. Anh V chị H được trả tiền nợ trong thời hạn 01 năm, theo đó 06 tháng đầu trả 300.000.000 đồng, 06 tháng tiếp theo trả hết tiền nợ gốc 300.000.000 đồng. Sau khi đã trả hết số nợ gốc trong vòng 01 năm, anh V chị H còn phải trả toàn bộ khoản lãi mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền Ngân hàng A nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 17/10/2023, bà Nguyễn Thị H xuất cảnh sang nước ngoài nên vụ án được chuyển thẩm quyền và do Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết. Tại phiên tòa, bị đơn là chị Nguyễn Thị H vắng mặt nhưng đã được tống đạt hợp lệ thông qua anh V, anh V cam kết sẽ giao lại các tài liệu, văn bản của Tòa án cho bà H, do đó Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án.
[2].Về nội dung tranh chấp: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 Ngân hàng A đã cho anh V chị H vay số tiền là 600.000.000. Lãi suất cho vay được tính trên cơ sở dư nợ và thời gian vay thực tế được quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn áp dụng tại kỳ tính lãi gần nhất so với thời điểm quá hạn; Lãi phạt chậm trả được tính theo mức lãi suất phạt chậm trả trên số lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm thanh toán. Lãi suất phạt chậm trả bằng 150% lãi suất vay trong hạn áp dụng tại kỳ tính lãi gần nhất so với thời điểm chậm trả lãi. Tài sản đảm bảo khoản vay của anh V chị H là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 16, tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 995602, Số vào sổ cấp GCN: CS 030089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 08/06/2020 cho anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H. Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng đúng theo quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy việc ký kết các Hợp đồng tín dụng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, đúng thẩm quyền, các điều khoản trong nội dung hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định pháp luật do vậy đã làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh V và chị H mới trả số tiền lãi 21.404.037 đồng. Tại phiên tòa, đại diện phía nguyên đơn yêu cầu anh V chị H phải trả cho N hàng An Bình tổng số tiền tính đến ngày xét xử tổng số tiền là 787.137.060 đồng, bao gồm nợ gốc là 600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.746.649 đồng, nợ lãi quá hạn là 183.390.411 đồng, anh V thừa nhận số nợ gốc, nợ lãi như phía Ngân hàng A đã đưa ra. Tại phiên tòa, đại diện của Ngân hàng A và ông V thỏa thuận về lộ trình trả nợ, Ngân hàng tạo điều kiện cho ông V và bà H được trả tiền nợ trong thời hạn 01 năm, theo đó 06 tháng đầu, tính từ ngày 09/7/2024 anh H chị V trả 300.000.000 đồng, tiền nợ gốc, 06 tháng tiếp theo trả hết tiền nợ gốc 300.000.000 đồng. Sau khi trả hết nợ gốc là 600.000.000 đồng (trong vòng 01 năm, tính từ ngày 07/7/2024), anh H và chị V phải trả trả cho Ngân hàng A toàn bộ số tiền nợ lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 cho đến khi thanh toán xong.
[3]. Về xử lý tài sản đảm bảo: Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, để đảm bảo khoản vay, anh V và chị H đã ký Hợp đồng thế chấp số 5352/21/TC-TT/XXXI với Ngân hàng A. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 16, tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 995602, Số vào sổ cấp GCN: CS 030089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 08/06/2020 cho anh V và chị H. Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng tại Văn phòng công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, trong trường hợp anh V và chị H không trả được nợ trong thời hạn 01 năm như thỏa thuận tại phiên tòa, Ngân hàng A có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên anh V chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng A tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (đã thanh toán xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 280; 299; 401; 463; 466; 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 147; Điều 228; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 100; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A, buộc anh Nguyễn Văn V, chị Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng A tổng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 787.137.060 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 600.000.000 đồng; Nợ lãi: 187.137.060 đồng, trong đó: Nợ lãi trong hạn: 3.746.649 đồng; Nợ lãi quá hạn: 183.390.411 đồng; Anh V và chị H được trả tiền nợ trong thời hạn 01 năm, theo đó 06 tháng đầu trả 300.000.000 đồng, 06 tháng tiếp theo trả hết tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và toàn bộ lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5664/21/TD-TT/XXXI ngày 18/08/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
- Trường hợp anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H không trả được nợ trong thời hạn 01 năm như thỏa thuận, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấplà Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 16, tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 995602, Số vào sổ cấp GCN: CS 030089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 08/06/2020 cho anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H tại Ngân hàng A. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết các khoản nợ thì anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí sơ thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị H phải chịu 35.485.482 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.000.000 đồng theo Biên lai số 0002582 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng A tự nguyện chịu số tiền 4.500.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (đã thanh toán xong).
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng A, anh V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
