Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công

Các hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thanh Hương, ông Phùng Văn Thông

Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1984

Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H; Có vợ là Trần Thị H1; có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: 01. Cụ thể: Ngày 01/11/2022, bị Phòng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC. Ngày 03/11/2022, L đã chấp hành nộp phạt đến nay chưa được xóa tiền sự.

- Nhân thân:

  • + Ngày 10/9/2016, bị Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPHC. Ngày 12/9/2016, L chấp hành việc nộp phạt, đến nay đã được xóa tiền sự.
  • + Ngày 05/7/2017, bị Tòa án nhân dân TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số: 70/2017/HS-ST, với giá trị tài sản bị xâm hại là 480.000đ, do trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt. Ngày 15/3/2018, L chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án đến nay đã được xóa án tích .

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Dương Hoàng L2, sinh năm 1976, có mặt

Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Dương Văn P, sinh năm 1976, có mặt

Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Văn Thị Thanh H2 - Luật sư thuộc công ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Địa chỉ: A N, p. L, T.P V, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước về xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu; chính quyền và nhân dân thôn H, trong đó có tổ liên gia số 3 (gồm 25 hộ gia đình) thống nhất việc treo cờ, đặt chậu hoa trước cổng nhà các hộ gia đình để trang hoàng không khí. Ngày 25/7/2023 tổ liên gia số 3 đã mua 25 chậu hoa, dùng phiếu bốc thăm để các hộ gia đình tự chọn chậu hoa đem về để trước cổng của mỗi hộ gia đình (kinh phí tự đóng góp 100.000đ/01 hộ). Gia đình anh Dương Hoàng L2 có con trai tham gia bốc thăm chậu hoa, đem chậu hoa Giấy về để trước cổng nhà của gia đình.

Cùng ngày 25/7/2023 nhân dân tổ liên gia số 3 tổ chức liên hoan, kinh phí tự đóng góp, tổ chức ăn uống tại gia đình anh Dương Văn P (tổ trưởng tổ liên gia) nhưng gia đình anh Dương Hoàng L2 không tham dự. Địa điểm tổ chức liên hoan (nhà anh P) cách cổng nhà anh L2 khoảng 50m.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, anh Dương Hoàng L2 đi làm về thì nhìn thấy ở rệ cổng nhà mình có để một chậu cây hoa giấy. Thấy vậy, anh L2 nhấc chậu hoa để ra rệ đường liên thôn cách cổng nhà khoảng 0,5m, anh L2 đi ra cổng lớn tiếng hỏi “Ai để chậu hoa ở đây”; thấy anh L2 lớn tiếng hỏi như vậy, thì anh Dương Văn P là tổ trưởng tổ liên gia số 3 thôn H từ trong nhà (đang tổ chức liên hoan) đi ra nói là “Chậu hoa này là của thôn trang trí để làm nông thôn mới, mày không cho để thì tao loại mày ra khỏi xóm”. Sau đó, giữa anh L2 và anh P xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại cãi chửi nhau, anh L2 nói với anh P “Mày không có quyền vì ông bà tao đi công tác bao nhiêu năm, đảng viên nghỉ hưu, mày là loại không trong sạch, tao có bầu mày đâu”, anh P ghé sát vào tai của anh L2 rồi nói “Mày có thích chết không”, thì anh L2 bảo là “Yêu cầu bầu cử lại xóm để người có ăn có học, có bằng cấp lên làm”. Sự việc cãi chửi nhau giữa anh phúc có nhiều người cùng dự liên hoan chứng kiến, có lời quan tiếng lại giữa anh L2 và vợ anh P.

Lúc này, Nguyễn Văn L, sinh năm 1984, trú tại thôn H, xã H là em trai cùng mẹ khác cha của anh P đang dự buổi liên hoan cùng thôn xóm biết sự việc cãi nhau nên đã đi về nhà mình (cách đó khoảng 50m), khi về đến nhà thì L vẫn nghe thấy tiếng chửi, cãi nhau. Do bực tức về việc anh L2 chửi anh P, nên L cầm 01 chiếc kéo có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn chạy ra để đánh gây thương tích cho anh L2. L đi đến đứng đối diện với anh L2, cách anh L2 khoảng 50cm, đâm kéo một phát trúng vùng thành trước ngực phải của anh L2 làm anh L2 bị thương chảy máu, rồi L đi vào trong nhà. Anh L2 được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P điều trị đến ngày 31/7/2023 thì ra viện.

Sau khi tiếp nhận tin báo về tội phạm nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân huyện V và các thành phần liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác minh theo quy định.

Ngày 26/7/2023, Nguyễn Văn L giao nộp 01 chiếc kéo có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn, kéo đã cũ và qua sử dụng; chị Phùng Thị K- tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc áo phông cộc tay cổ trắng, không có nhãn hiệu, áo đã cũ qua sử dụng, mặt trước cổ áo vị trí cách cổ áo theo chiều từ trên xuống 15cm có các vết màu nâu đã khô có kích thước 09cm x 05cm, tại vị trí các vết này có vết rách thủng kích thước 0,3cm của anh L2 mặc khi xảy ra vụ việc.

Ngày 03/8/2023, anh Dương Hoàng L2 giao nộp 01 đĩa DVD bên trong lưu trữ 01 đoạn video ghi lại diễn biến nội dung sự việc.

Tại biên bản xác minh xác minh hồi 15h30' ngày 30/7/2023, tại khoa Phẫu thuật tim mạch lồng ngực Bệnh viện đa khoa tỉnh P thể hiện: Anh Dương Hoàng L2 lúc vào viện trong tình trạng tỉnh táo, giao tiếp tốt đau ngực phải, không khó thở, khám bộ phận, khám tại chỗ vết thương dưới ngực phải kích thước 0,5cm bờ gọn rỉ ít máu, nhịp tim đều T1, T2 và phổi thông khí được. Cận lâm sàng chụp CT lồng ngực không có thuốc, và dấu hiệu liệt khu trú các cơ quan khác không phát hiện được bệnh lý.

Ngày 03/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 420, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định pháp y về thương tích đối với anh Dương Hoàng L2.

Ngày 15/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh V có kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 277/KLTTCT-PYVP, kết luận:

- Kết quả khám giám định:

  • + Vết thương phần mềm thành trước ngực bên phải, kích thước nhỏ xếp 01%.
  • + Hiện tại đương sự đang điều trị vết thương, khi nào ổn định giám định bổ sung.
  • + Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần không có mục xác định “Thương tích này nếu không cấp cứu kịp thời có nguy hiểm đến tính mạng không”
  • + Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc nhọn gây nên.

- Kết luận: Căn cứ thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Hoàng L2 tại thời điểm giám định là: 01%.

Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho những người liên quan biết thì tất cả đều đồng ý, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 30/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định số 34 trưng cầu giám định bổ sung pháp y về thương tích đối với anh Dương Hoàng L2.

Tại bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 317/TgT ngày 31/8/2023 của Trung Tâm pháp y tỉnh V, kết luận đối với thương tích anh Dương Hoàng L2:

- Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương phần mềm thành trước ngực bên phải, kích thước nhỏ xếp 01%.

- Kết luận: Căn cứ thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Hoàng L2 tại thời điểm giám định là: 01%.

Ngày 03/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 421, trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định Kỹ thuật số điện tử đối với 01 đĩa DVD bên trong có lưu trữ 01 đoạn video do anh Dương Hoàng L2 giao nộp.

Ngày 18/9/2023, Phòng K1- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 2577/KL-HTHS, kết luận: Trích xuất được 05 (năm) ảnh từ tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong phụ lục giám định. Kèm theo kết luận giám định: Một phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên. H3 lại đối tượng gửi giám định có đặc điểm tả trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc tại Phòng K1 Công an tỉnh V.

Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho những người liên quan biết thì tất cả đều đồng ý, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 24/8/2023, anh Dương Hoàng L2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thương tích; đối với anh Dương Văn P về hành vi “Đe dọa giết người”.

Đối với anh Dương Văn P khi cãi chửi nhau với anh L2 thì anh P có nói với anh L2 là “Mày có thích chết không”. Anh L2 cho rằng việc anh P có lời nói như vậy là hành vi đe dọa Giết người đối với anh L2. Tuy nhiên, quá trình làm việc với cơ quan điều tra anh P khai bản thân mình nói câu này với anh L2 là do bực tức, chỉ để chửi lại anh L2 chứ không có mục đích gì khác, không bàn bạc thống nhất với ai về việc này. Sau đó sự việc cũng kết thúc chứ không đe dọa gì anh L2. Bản thân anh L2 cũng khai sau khi sự việc mâu thuẫn ngày 25/7/2023 kết thúc thì cũng không có ai đe dọa hay xúc phạm gì anh L2. Do vậy, hành vi trên của anh P không có dấu hiệu của tội đe dọa Giết người, quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý đối với anh P là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn L có hành vi dùng kéo 01 có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn đâm một phát trúng vùng thành trước ngực phải anh L2. Khi đâm L không nhằm vào vị trí cụ thể, không có mục đích tước đoạt tính mạng của anh L2, hậu quả thương tích thực tế là 01%, nêu hành vi nên trên của L không cấu thành tội Giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự

* Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc kéo có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn, kéo đã cũ qua sử dụng do Nguyễn Văn L giao nộp; quá trình điều tra xác định là tài sản của L, được L sử dụng để gây thương tích cho anh Dương Hoàng L2, đề nghị tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay cổ trắng, không có nhãn hiệu, áo đã cũ qua sử dụng, mặt trước cổ áo vị trí cách cổ áo theo chiều từ trên xuống 15cm có các vết màu nâu đã khô do chị Phùng Thị K là vợ của anh Dương Hoàng L2 giao nộp không có giá trị sử dụng, anh L2 không muốn nhận lại chiếc áo trên mà đề nghị các cơ quan chức năng tiêu hủy. Do vậy đề nghị tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc đĩa DVD do cơ quan giám định hoàn trả cơ quan điều tra say khi giám định chuyển theo hồ sơ vụ án.

*Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Dương Hoàng L2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thương cho mình số tiền 53.540.000 đồng, cụ thể:

  • - Chi phí điều trị có hóa đơn: 11.900.000đ.
  • - Tiền đi Taxi đi điều trị tại viện Phú Thọ: 340.000đ.
  • - Tiền đi Taxi đi giám định: 800.000đ.
  • - Ngày công lao động 21 ngày = 10.500.000₫.
  • - Ngày công người đi chăm sóc khi nằm viện, 06 ngày = 3.000.000đ.
  • - Tổn thất tinh thần: 15 tháng lương = 27.000.000đ.
  • - Tổng cộng là: 53.540.000₫

Bị cáo Nguyễn Văn L đồng ý bồi thường các khoản: Chi phí điều trị; chi phí đi lại taxi, tổng là 13.040.000đ. Đối với tiền ngày công lao động, tiền ngày công người đi chăm sóc, tổn thất tinh thần: Đồng ý nhưng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 131/CT-VKSVT ngày 14 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Nguyễn Văn L phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 47; điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn L từ 06 đến 09 tháng tù, tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận các chi phí như sau:

  • - Chi phí điều trị có hóa đơn: 11.900.000đ.
  • - Ta xi đi điều trị: 340.000đ.
  • - Ta xi đi giám định: 800.000đ.
  • - Ngày công lao động 10 ngày = 4.000.000đ.
  • - Ngày công người đi chăm sóc 06 ngày = 1.800.000đ.
  • - Tổn thất tinh thần: 02 tháng lương = 3.600.000đ.
  • - Tổng cộng là: 22.440.000₫

Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là Luật sư Văn Thị Thanh H2 phát biểu quan điểm:

  • - Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc tội danh, điều luật đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
  • - Bị cáo Lương thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.
  • - Bị cáo L dùng kéo, là hung khí nguy hiểm, đâm vào vùng ngực, gây thương tích; nên đã cấu thành tội “cố ý gây thương tích”; bị cáo không có mâu thuẫn với bị hại, sự việc mâu thuẫn chỉ là cãi chửi nhau, nhưng bị cáo đã dùng hung khí để đâm bị hại, nên có tính chất côn đồ.
  • - Đề nghị xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo.
  • - Về bồi thường dân sự: Đề nghị HDXX chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại (bởi vết thương gây ra hiện vẫn ảnh hưởng đến sức khỏe; tổn thất tinh thần rất lớn, nghiêm trọng)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng về cơ bản đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Nội dung vụ án thể hiện: Do không đồng ý với chủ trương của tổ liên gia về việc để chậu hoa trước cổng nhà, gây cản trở tầm nhìn, anh Dương Hoàng L2 đã phản ứng và từ đó mâu thuẫn, cãi nhau với tổ trưởng tổ liên gia là anh Dương Văn P. Do bênh vực anh trai mình, nên Nguyễn Văn L (em cùng mẹ khác cha với anh P) đã dùng kéo đâm, gây thương tích cho anh L2 01% vào buổi tối ngày 25/7/2023 tại tổ L, thôn H, xã L, huyện V.

Sự việc vốn dĩ không liên quan đến bị cáo, nhưng bị cáo đã gây thương tích cho anh L2; bị cáo lại là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử lý hành chính, kết án về hành vi vi phạm khác; bị cáo dùng Kéo kim loại, sắc nhọn để gây thương tích; nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tình tiết định khung, phạm tội có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm i, a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Sự việc phạm tội xảy ra cũng có một phần nguyên nhân lỗi của bị hại là anh Dương Hoàng L2; đã không chấp hành các chủ trương của chính quyền địa phương, của nhân dân nơi cư trú về xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

HĐXX thấy rằng: lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính bị cáo, bị hại, người làm chứng, tang vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể .. dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a. Dùng ...hung khí nguy hiểm...

i. Có tính chất côn đồ ...”

3. Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả (đã nộp số tiền 10.000.000đ tại cơ quan thi hành án dân sự để bồi thường cho bị hại); có ông bà nội ngoại là người có công, được tặng thưởng huy chương, huân chương, bằng khen; bị hại cũng có một phần lỗi là nguyên nhân để xảy ra sự việc phạm tội. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sự việc phạm tội giản đơn, xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị hại và anh trai ruột của bị cáo trong việc thực hiện quy định về chấp hành chính sách tại địa phương; giữa hai bên là hàng xóm với nhau; thương tích của bị hại chỉ là 01%, hậu quả không lớn; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đã tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình. Do vậy được xem xét giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, do bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị kết án, xử phạt hành chính về các hành vi vi phạm pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo một mức án tù nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

4. Đối với anh Dương Văn P khi cãi chửi nhau với anh L2 thì anh P có nói với anh L2 là “Mày có thích chết không”. Anh L2 cho rằng việc anh P có lời nói như vậy là hành vi đe dọa Giết người đối với anh L2. Tuy nhiên, quá trình làm việc với cơ quan điều tra anh P khai bản thân mình nói câu này với anh L2 là do bực tức, chỉ để chửi lại anh L2 chứ không có mục đích gì khác, không bàn bạc thống nhất với ai về việc này. Sau đó sự việc cũng kết thúc chứ không đe dọa gì anh L2. Bản thân anh L2 cũng khai sau khi sự việc mâu thuẫn ngày 25/7/2023 kết thúc thì cũng không có ai đe dọa hay xúc phạm gì anh L2. Do vậy, hành vi trên của anh P không có dấu hiệu của tội đe dọa Giết người, quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý đối với anh P là phù hợp.

5. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc kéo có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn, kéo đã cũ qua sử dụng do Nguyễn Văn L giao nộp; quá trình điều tra xác định là tài sản của L, được L sử dụng để gây thương tích cho anh Dương Hoàng L2, cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay cổ trắng, không có nhãn hiệu, áo đã cũ qua sử dụng, mặt trước cổ áo vị trí cách cổ áo theo chiều từ trên xuống 15cm có các vết màu nâu đã khô do chị Phùng Thị K là vợ của anh Dương Hoàng L2 giao nộp không có giá trị sử dụng, anh L2 không muốn nhận lại chiếc áo trên mà đề nghị các cơ quan chức năng tiêu hủy. Do vậy cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc đĩa DVD do cơ quan giám định hoàn trả cơ quan điều tra say khi giám định chuyển theo hồ sơ vụ án.

6. Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, anh Dương Hoàng L2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho mình số tiền: Chi phí điều trị có hóa đơn: 11.900.000đ; tiền Taxi đi điều trị: 340.000đ; tiền Taxi đi giám định: 800.000đ; tiền ngày công lao động (06 ngày nằm viện và 15 ngày sau khi ra viện; anh L2 làm nghề sửa chữa điện lạnh) 21 ngày x 500.000đ/01 ngày = 10.500.000đ; tiền ngày công người đi chăm sóc khi nằm viện (vợ anh L2, lao động tự do) 06 ngày x 500.000đ/01 ngày = 3.000.000đ; Tổn thất tinh thần: 15 tháng lương = 27.000.000đ. Tổng cộng là: 53.540.000₫.

HĐXX thấy rằng: thương tích của anh L2 chỉ là 01%, thương tích phần mềm; nằm điều trị tại bệnh viện P 06 ngày; sau khi ra viện đã hầu như hồi phục hoàn toàn; không có di chứng. Do vậy, các yêu cầu về bồi thường của anh L2 được xem xét như sau:

  • - Các chi phí điều trị có hóa đơn: 11.900.000đ; tiền Taxi đi điều trị: 340.000đ; tiền Ta xi đi giám định: 800.000đ là các chi phí thực tế; bị cáo L cũng đồng ý bồi thường nên được HĐXX chấp nhận.
  • - Ngày công lao động: Anh L2 nằm viện 06 ngày, khi ra viện đã hồi phục nhưng vẫn cần thêm thời gian để nghỉ ngơi. Do vậy, quan điểm của Viện kiểm sát về tổng số ngày công lao động 10 ngày là phù hợp; anh L2 làm nghề sửa chữa điện lạnh, thu nhập bình quân tại khu vực nơi cư trú từ 300.000đ đến 400.000đ/01 ngày; do vậy, quan điểm của Viện kiểm sát về số ngày công lao động là 10 ngày x 400.000đ/01 ngày = 4.000.000đ là phù hợp.
  • - Ngày công người đi chăm sóc: anh L2 nằm viện điều trị 06 ngày, do vậy cần phải có người đi chăm sóc là phù hợp. Vợ anh long là người chăm sóc, làm nghề lao động tự do, nên quan điểm của Viện kiểm sát về áp dụng mức bồi thường 06 ngày x 300.000đ/01 ngày = 1.800.000đ là phù hợp.
  • - Tổn thất tinh thần: Do thương tích của anh L2 là 01%, phần mềm, khi xuất viện không gây di chứng; bản thân anh L2 cũng có một phần lỗi để xảy ra sự việc phạm tội. Do vậy, quan điểm của Viện kiểm sát về việc chấp nhận mức bồi thường 02 tháng lương x 1.800.000đ/01 tháng = 3.600.000₫ là phù hợp.
  • Tổng cộng là: 22.440.000₫

Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo L đã nộp số tiền 10.000.000đ theo phiếu thu số 0002274 ngày 12/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường để bồi thường cho anh L2. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện dùng toàn bộ số tiền này để bồi thường, nên được HĐXX chấp nhận. Cần tuyên trả cho anh L2 số tiền này, đồng thời xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại.

Số tiền còn lại cần buộc bị cáo phải bồi thường.

7. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
  3. Xử phạt: Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Về trách nhiệm dân sự:
    • Trả cho anh Dương Hoàng L2 10.000.000đ do bị cáo Nguyễn Văn L nộp tại phiếu thu số 0002274 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • Buộc Nguyễn Văn L phải tiếp tục bồi thường cho anh Dương Hoàng L2 số tiền 12.440.000đ.
  5. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo có tổng chiều dài 20cm, phần chuôi kéo màu xanh dài 07cm, phần lưỡi kéo bằng kim loại dài 13cm, phần đầu lưỡi kéo nhọn, kéo đã cũ qua sử dụng; 01 chiếc áo phông cộc tay cổ trắng, không có nhãn hiệu, áo đã cũ qua sử dụng (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc).
  6. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 622.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Công an huyện Vĩnh Tường;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Lũng Hòa, Vĩnh Tường;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger