Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TU MƠ RÔNG

TỈNH KON TUM

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày: 09/05/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG- TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y Hy và ông A Phun;

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Chí Dũng- Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 09/05/2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 29/03/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS, ngày 25/04/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Q

(Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/02/1983 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Đang chung sống như vợ chồng với chị Hồ Thị X, sinh năm 1980 (chưa đăng ký kết hôn); Chưa có con chung. Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 17/11/2022 của Công an huyện T phạt tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản. Hiện Nguyễn Xuân Q chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Bị cáo đã hai lần bị TAND có thẩm quyền xử phạt về tội Trộm cắp tài sản, cụ thể:

Bản án số 15/2011/HSST ngày 27/07/2011 Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung 2009). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt năm 2012.

Bản án số 18/2015/HSST ngày 18/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung 2009). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt năm 2016.

Hiện bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1994 (Có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Thôn C, xã T, huyện T,tỉnh Thanh Hóa;

Nơi tạm trú: Thôn M, xã N, huyện T, Kon Tum.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH một thành viên H

Địa chỉ: 3 L, phường L, TP ., Kon Tum.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Thanh V- Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Anh Bùi Văn Đ (Có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi tạm trú: Thôn M, xã N, huyện T, Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26/01/2024, Nguyễn Xuân Q đi bộ qua khu vực Trạm y tế xã T (đã bỏ hoang) thì thấy một xe máy ủi hiệu KOMATSU D60P thuộc sở hữu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H giao cho ông Bùi Văn Đ quản lý, đang đậu không có người trông coi nên Q nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy của xe máy ủi để bán tiêu xài cá nhân.

Khoảng 03 giờ sáng ngày 27/01/2024, Nguyễn Xuân Q mang theo 01 cờ lê đi từ nhà mình lên vị trí xe máy ủi và quan sát xung quanh không thấy người qua lại. Lúc này Q trèo lên xe máy ủi dùng hai tay dỡ ghế lái lên thấy 02 (Hai) bình ắc quy ở phía dưới. Lập tức Q dùng cờ lê mở các ốc cọc 02 bình ắc quy (01 bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 110905230119, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm; 01 (Một) bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 172707230407, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm) rồi lần lượt vác đi cất giấu cách đó khoảng 70 mét rồi đi về nhà ngủ. Đến khoảng 10 giờ ngày 28/01/2024, Q thấy người dân phát cây gần vị trí cất giấu 02 bình ắc quy. Sợ bị phát hiện nên đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Q đến vị trí cất giấu mang 02 bình ắc quy đi cất giấu nơi khác thì bị Công an xã T phát hiện. Quá trình làm việc, lấy lời khai, Nguyễn Xuân Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐ ngày 07/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Kon Tum xác định 02 bình ắc quy mà Nguyễn Xuân Q thực hiện hành vi trộm cắp trị giá 3.600.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 27/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"; Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Bùi Văn Đ đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định 02 (Hai) bình ắc quy có đặc điểm: 01 (Một) bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 110905230119, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm và 01 (Một) bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 172707230407, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm. Đây là tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H Đ1 giao cho Bùi Văn Đ quản lý nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Văn Đ quản lý là phù hợp.

Đối với 01 chiếc cờ lê 13 bằng kim loại đã qua sử dụng, có chiều dài 18cm, trên thân cờ lê có dòng chữ YETI USA Standard. Xét thấy, cờ lê đã rỉ sét, không còn giá trị sử dụng nêu đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã sai, xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo tích cực học tập, cải tạo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Xuân Q đã có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Kon Tum nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum theo quy định tại Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì khác, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 27/01/2024, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý hợp pháp, Nguyễn Xuân Q đã lén lút lấy trộm của anh Bùi Văn Đ 02 (hai) bình ắc quy (01 bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 110905230119, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm; 01 bình ắc quy màu trắng đen, trên bình có dòng chữ dongnai N150, số hiệu: 172707230407, loại 12V-150Ah, kích thước dài 50cm, rộng 20cm, cao 20cm) có tổng trị giá 3.600.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý và trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, bị cáo Nguyễn Xuân Q bị Viện kiểm sát truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản; có nhân thân xấu đã hai lần bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được giáo dục và cải tạo nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho người quản lý hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác: Người bị hại là anh Bùi Văn Đ đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả 02 (hai) bình ắc quy cho bị hại anh Bùi Văn Đ là phù hợp, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc cờ lê có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/04/2024 là công cụ mà Nguyễn Xuân Q sử dụng để mở lấy trộm hai bình ắc quy. Hội đồng xét xử xét thấy, cờ lê đã rỉ sét không còn giá trị sử dụng nêu tịch thu và tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân Q bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng khoản 1 điều 173; Điều 38, Điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc Cờ lê có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an huyện T và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum lập ngày 01/04/2024.

[3] Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (09/05/2024); Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Tu Mơ Rông;
  • - Công an huyện Tu Mơ Rông;
  • - CCTHADS huyện Tu Mơ Rông;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Bình Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Q- Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger