|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 09 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Sang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Ngọc Trang – Giáo viên
2. Ông Nguyễn Quốc Sáu – Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ái Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị T; sinh ngày 19/05/1990 tại: huyện H, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: khu phố B, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn C, con bà Nguyễn Thị O; bị cáo có chồng thứ nhất là Đinh Văn T1 (đã ly hôn), chồng thứ hai là Trần Văn T2 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/09/2023 đến ngày 14/9/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
2. Mai Minh D; sinh ngày: 12/04/2006 tại: huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, phường L, B, Thanh Hóa; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Mai Hùng S, con bà Phạm Thị T3; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Năm 2021 bị Công an thị xã B xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hình thức: Cảnh cáo.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/09/2023 đến ngày 14/9/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo D: chị Phạm Thị T3, sinh năm 1975; trú tại: khu phố A, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
1
- Người bào chữa cho bị cáo D: bà Lê Thị P, sinh năm 1986 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).
- Người làm chứng:
1, Phạm Anh T4, sinh năm 1989
Trú tại: khu phố E, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
2, Lại Văn T5, sinh năm 1969
Trú tại: khu phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 11/9/2023, Tổ công tác Đội CSĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B phối hợp cùng Công an phường Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực cây xăng T9- Tha thuộc khu phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Mai Minh D đến đổ xăng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra D đã tự nguyện giao nộp 01 gói nhỏ bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá. D khai nhận đó là ma túy đá vừa mua của Nguyễn Thị Thanh h 17 giờ 10 phút tại ngõ C, đường T, khu phố A, phường L, thị xã B với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật.
*Tài sản và vật chứng thu giữ gồm:
- Thu giữ của Mai Minh D:
- + 01 (một) gói kích thước khoảng (1x2)cm được cuốn bằng băng dính màu vàng tiếp đến là ống hút nhựa, bên trong gói đựng ma túy đá (ký hiệu M1).
- + 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Sphus, màu xám, bên trong có sim thuê bao số 0924.876.992 có số IMEI: 354991077864512.
- + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu xanh, đen, bạc có số khung: RLHJA3920NY141098, số máy: JA39E2638087 không có biển kiểm soát.
- Tiến hành kiểm tra khẩn cấp và thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn Thị T:
- + 01 (một) hộp phấn trang điểm hình tròn, màu trắng đường kính khoảng 7cm.
- + 04 (bốn) gói ma túy kích thước khoảng (1x2)cm được bọc bằng băng dính màu vàng, tiếp đến là ống hút nhựa, bên trong mỗi gói đều đựng ma túy đá (ký hiệu M2)
- + 01 (một) túi nilon màu trắng có dán băng dính màu đen, kích thước túi khoảng (3x5)cm, bên trong túi có đựng ma túy đá.
- + 01 (một) cuộn băng dính hình tròn, màu đen, đường kính khoảng 05cm và 01 (một) cuộn băng dính hình tròn, màu vàng, đường kính khoảng 06cm.
- + 02 (hai) kéo cắt chỉ màu đỏ, dài khoảng 10cm và 23 (hai mươi ba) ống hút nhiều màu sắc được bó bằng dây chun màu vàng.
- + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting có nắp màu vàng, 01 ống hút màu trắng sọc đỏ và 01 ống thủy tinh dài khoảng 7cm có bám dính khói màu đen.
2
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại có bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng, không lắp sim. Số Sơri máy: 354877082137723 có số IMEI1: 354877082137723, IMEI 2: 354877082137731
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màn hình bị rạn nứt, đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim thuê bao số 0977316007 và sim thuê bao số 0829119136. Có số IMEI: 860646042764554 số IMEI2: 860646042764547
Ngày 11/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B ra Quyết định trưng cầu giám định số 134/QĐ-CSĐT giám định chất ma túy đối với mẫu vật cần giám định trong các phong bì ký hiệu M1, M2.
- Tại Bản Kết luận giám định số: 3238/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- + Phong bì ký hiệu M1 bên trong chứa 01 (một) gói kích thước khoảng (1x2)cm được cuốn bằng băng dính màu vàng tiếp đến là ống hút nhựa, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá thu của Mai Minh D có tổng khối lượng (trọng lượng) là: 0,110 gam; là ma túy loại: Methamphetamine.
- + Phong bì ký hiệu M2 bên trong chứa 04 (bốn) gói ma túy kích thước khoảng (1x2)cm được bọc bằng băng dính màu vàng, tiếp đến là ống hút nhựa, bên trong mỗi gói đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá và 01 (một) túi nilon màu trắng có dán băng dính màu đen, kích thước túi khoảng (3x5)cm, bên trong túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá thu của Nguyễn Thị T có tổng khối lượng (trọng lượng) là: 7,090 gam; là ma túy loại: Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị T và Mai Minh D đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 09/09/2023 Nguyễn Thị T đi bộ từ phòng trọ tại khu phố B, phường L, thị xã B ra khu vực trước cổng bệnh viện Đ rồi thuê xe taxi hãng M gắn biển kiểm sát: 36A- 143-62 do anh Phạm Anh T4 chở đến khu vực trường tiểu học N thuộc thành phố N nhằm mục đích mua ma túy. Trên đường đi T có sử dụng số điện thoại của mình là 0977.316.xxx và số 0829.119.136 liên lạc đến số điện thoại 0848.051.xxx của Phùng Văn P1 để liên hệ mua ma túy. Khi đến khu vực ngõ H, đường N, thuộc thành phố N thì T yêu cầu anh T4 dừng xe lại chờ, còn T đi bộ đến khu vực trước cổng trường tiểu học N gặp P1. Tại đây T gặp P1 và hỏi “xong việc đấy chưa” (tức là chuẩn bị được ma túy cho T chưa) đồng thời T đưa cho P1 số tiền mặt là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng), P1 cầm tiền và đưa cho T một túi Zíp bên trong có sẵn ma túy đá. T cầm gói ma túy hỏi lại P1 “làm ăn kiểu gì mà không cân kéo gì vậy”, P1 nói lại “thôi cô cứ về đi”. Sau khi mua được ma túy đá T quay lại xe taxi và nói anh T4 chở mình về khu vực cây xăng cũ của phường Đ, B. Gần 02 giờ sáng ngày 10/9/2023 T mang ma túy về đến phòng trọ, chia nhỏ ra các phần bằng nhau và bỏ vào ống hút nhựa quấn băng dính quanh tròn lại nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lời.
Đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 11/09/2023, T đang ở phòng trọ thì nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo tên “cháu D” tức Mai Minh D nhắn đến tài khoản zalo của T đăng ký bằng số điện thoại 0977.316.xxx tên“ Vì con” với nội dung:
3
“cháu trả nợ 500k này” (tức là D hỏi mua ma túy của T với gói giá năm trăm nghìn đồng), T đồng ý gọi điện thoại lại cho D nói “có, bây giờ dì xuống đầu ngõ nhà cháu”, D trả lời “vâng”. Một lúc sau D nhắn tin cho T nói là đang đổ xăng ở cây xăng 5 tầng. Khoảng 17 giờ 10 phút, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream gắn biển kiểm soát 36F4-3236 đến khu vực cây xăng 5 tầng, khi thấy D đi qua T điều khiển xe máy đi trước còn D đi theo sau đến đầu cầu H thuộc phường Đ, D dừng lại đưa cho T số tiền 500.000đ (gồm hai tờ 200.000đ và một tờ 100.000₫), T cầm tiền đưa lại cho D tờ tiền 100.000đ và bảo “đi xuống ngõ nhà cháu đi dì đưa cho”. Sau đó, T điều khiển xe máy về ngõ C T, khu phố A, phường L, thị xã B thì thấy D đang đứng đợi ở bên trong ngõ cách mặt đường T khoảng 2m, T đưa cho D 01 (một) gói ma túy kích thước khoảng (1x2)cm được cuốn bằng băng dính màu vàng. D nhận gói ma túy của T và điều khiển xe máy đi đến cây xăng T10 thuộc khu phố X, phường Đ, thị xã B để đổ xăng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ gói ma túy của D như đã nêu trên.
Sau khi giao ma túy cho D, T đi trả xe máy Honda Dream biển kiểm sát 36F4-3236 cho Vũ Tất T6, mua đồ cho con xong quay về phòng trọ đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì có lực lượng Công an đến triệu tập, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với T.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSBS ngày 18/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Mai Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Mai Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình xử phạt Nguyễn Thị T từ 07 (Bảy) năm 06(Sáu) tháng đến 08(T7) năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 12, Điều 90, Điều 91, khoản 4 Điều 98, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình xử phạt Mai Minh D từ 09(Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) hộp phấn trang điểm hình tròn, màu trắng đường kính khoảng 7cm; 04 (bốn) gói ma túy kích thước khoảng (1x2)cm được bọc bằng băng dính màu vàng, tiếp đến là ống hút nhựa; 01 (một) túi nilon màu trắng có dán băng dính màu đen, kích thước túi khoảng (3x5)cm; 01 (một) cuộn băng dính hình tròn, màu đen, đường kính khoảng 05cm và 01 (một) cuộn băng dính hình tròn, màu vàng, đường kính khoảng 06cm; 02 (hai) kéo cắt chỉ màu đỏ, dài khoảng 10cm và 23 (hai mươi ba) ống hút nhiều màu sắc được bó bằng dây chun màu vàng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting có nắp màu vàng, 01 ống hút màu trắng sọc đỏ và 01 ống thủy tinh dài khoảng 7cm có bám dính khói màu đen
4
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màn hình bị rạn nứt, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI 1: 860646042764554, IMEI2: 860646042764547.
Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại có bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI1: 354877082137723, IMEI 2: 354877082137731; trả lại cho bị cáo D 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Sphus, màu xám, bên trong có sim thuê bao số 0924.876.992 có số IMEI: 354991077864512.
Buộc bị cáoNguyễn Thị T8 phải nộp lại số tiền 400.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: đề nghị buộc các bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo Mai Minh D.
Lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý đối với bị cáo Mai Minh D:
Thống nhất với tội danh và hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo có trình độ văn hoá thấp nên nhận thức pháp luật rất hạn chế, gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, bố bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam, mẹ không có công việc ổn định. Gia đình cũng chưa dành nhiều thời gian quan tâm và định hướng cho bị cáo mới dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã nhận thức rõ sai lầm của mình, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo luôn có thái độ hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình. Ông, bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương. Vì thế, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị áp dụng điều 91 điều, điều 101 BLHS về người chưa thành niên phạm tội để xét xử bị cáo. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo.
Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo D.
Vì gia đình bị cáo D thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn tiền án phí cho bị cáo D.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên; VKSND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố
5
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 11/9/2023, tại cây xăng T - Tha thuộc phường Đ, thị xã B, tổ công tác Đội Cảnh sát ĐTTP về kinh tế ma túy phối hợp với công an phường Đ bắt quả tang Mai Minh D đang tàng trữ trong người 01 gói ma túy vừa mua của Nguyễn Thị T có khối lượng 0,11 g loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị T và thu giữ 05 (năm) gói ma túy đang cất dấu trong phòng trọ có khối lượng 7,090 g Methamphetamine mục đích bán kiếm lời.
Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự, hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Mai Minh D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
[3] Xét tính chất vụ án:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm. Do đó, cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Cả hai bị cáo T và D đều có chung một tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo D còn có 03 tỉnh tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đó là: ông, bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bố đẻ đang hưởng trợ cấp chất độc hóa học; gia đình thuộc diện hộ cận nghèo giai đoạn 2023-2025.
Vì vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được đường lối chính sách của pháp luật Nhà nước, từ đó cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét về nhân thân bị cáo D năm 2021 bị Công an thị xã B xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức: Cảnh cáo. Tuy nhiên, D không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì thế cần lên cho bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản, thu nhập, bản thân phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
6
Các vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản gồm:
- - 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K Công an tỉnh T phát hành bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong của 02 phong bì; 0,101g (không phẩy một không một gam) các hạt tinh thể màu trắng dạng đá của phong bì ký hiệu M1; 6,728 g (sáu phảy bảy hai tám gam) các hạt tinh thể màu trắng dạng đá của phong bì ký hiệu M2 (là mẫu vật còn lại sau giám định).
- Vật chứng này là vật loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 01 đoạn băng dính màu vàng và một đoạn ống nhựa màu hồng được đựng trong phong bì ghi “M1”; 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 6cm x 4,3cm; một đoạn băng dính màu đen bên trên có dính mảnh ni lông màu trắng; bốn đoạn băng dính màu vàng; sáu đoạn ống nhựa màu hồng và hai đoạn ống nhựa màu xanh được đựng trong một phong bì ghi “Nguyễn Thị T (M2)”
- - 01 Hộp phấn trang điểm hình tròn, màu trắng đường kính khoảng 07cm; 01 cuộn băng dính hình tròn màu đen, đường kính khoảng 05 cm; 01 cuộn băng dính hình tròn màu vàng, đường kính khoảng 06 cm; 02 kéo cắt chỉ màu đỏ, dài khoảng 10 cm; 23 ống hút nhiều màu sắc được bó bằng dây chun màu vàng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 chai nhựa ghi chữ Sting có nắp màu vàng, 01 ống hút màu trắng sọc đỏ và 01 ống thuỷ tinh dài khoảng 07 cm có bám dính khói màu đen.
- Vật chứng này không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 (một) điện ĐTDĐ hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màn hình bị rạn nứt, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI 1 : 860646042764554, IMEI2: 860646042764547. Đây là phương tiện, công cụ phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Sphus, màu xám, bên trong có sim thuê bao số 0924.876.992 có số IMEI: 354991077864512 là tài sản của D và 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, loại có bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI1: 354877082137723, IMEI 2: 354877082137731 là tài sản của bị cáo T; các tài sản này không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho các bị cáo là phù hợp.
- - Đối với số tiền 400.000 đồng là tiền T bán ma tuý cho D là tiền do phạm tội mà có, buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.
- như vậy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo T khai nhận toàn bộ ma túy đá Methamphetamine mà lực lượng Công an thu giữ ngày 11/09/2023 tại phòng trọ và ma túy T bán cho D được T mua từ người đàn ông tên Phùng Văn P1. Quá trình điều tra không xác định được hành vi mua bán ma túy giữa P1 và T vào ngày 09/09/2023. Mặt khác Kết luận giám định V1 - Bộ C1 kết luận: Không phát hiện tế bào người bám dính trên các mẫu gửi giám định, không phát hiện thấy dấu vết đường vân trên các gói ma túy gửi đi giám định. Vì vậy không có căn cứ xử lý đối
7
với Phùng Văn P1.
[8] Về các vấn đề khác:
- - Đối với lái xe taxi Phạm Anh T4 điều khiển xe biển kiểm soát: 36A- 143.62 cho hãng taxi M (có đầy đủ giấy tờ đăng ký xe và giấy phép lái xe), ngày 09/09/2023 T thuê anh chở đi mua ma túy, anh T4 không biết mục đích T thuê chở đi đâu, làm gì nên không có căn cứ xử lý.
- - Đối với anh Vũ Tất T6 là chủ phương tiện xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm sát 36F4-3236 màu mận chín mà T dùng làm phương tiện đi bán ma túy ngày 11/9/2023. Anh T6 cho T mượn xe để đi đón con, không biết T dùng làm phương tiện đi bán ma túy. Kết quả tra cứu xe máy biển kiểm soát biển kiểm sát 36F4-3236 không phải là tang vật của vụ án, có nguồn gốc rõ ràng nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với chủ sở hữu thuê bao điện thoại 0829.119.xxx: qua tra cứu, xác minh là của chị Nguyễn Thị D1 (em gái ruột của T). Chị D1 đã cho T sử dụng thuê bao điện thoại trên từ lâu nên không biết mục đích T dùng để liên lạc mua ma túy vào ngày 09/09/2023 nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với với chủ sở hữu thuê bao điện thoại 0848.051.xxx: qua tra cứu xác minh là của chị Nguyễn Thị P2 (là vợ của Phùng Văn P1), đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài từ năm 2018 đến nay. Hiện tại không có mặt tại địa phương nên không tiến hành làm việc được.
- - Đối với chủ nhà trọ T đang thuê để ở là bà Nguyễn Thị L: việc Nguyễn Thị T thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bà L không biết gì nên không có căn cứ để xử lý bà L.
- - Đối với các tài sản, đồ vật thu giữ không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, gồm:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu xanh, đen, bạc có số khung: RLHJA3920NY141098, số máy: JA39E2638087 là tài sản của chị Phạm Thị T3 (mẹ đẻ của D) mua về sử dụng sinh hoạt hằng ngày. Qua kiểm tra thấy số máy, số khung của xe không có dấu vết bị cắt, đục, sửa chữa phù hợp với kết quả tra cứu trên hệ thống đăng ký xe mô tô; đồng thời không phải là tang vật của vụ án, vụ việc nào khác, có nguồn gốc rõ ràng, bản thân chị T3 không biết con trai mình mượn xe ngày 11/9/2023 nhằm mục đích gì nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T3. Chị T3 nhận lại tài sản và không có ý kiến thắc mắc gì. Nên miễn xét.
[9] Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Đối với bị cáo Mai Minh D bị cáo là người cưa thành niên phạm tội, gia đình bố mẹ bị cáo là hộ cận nghèo nên miễn án phí HSST cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo D được kháng cáo bản án theo điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
- - Căn cứ vào điểm i khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo T);
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 91, điều 101 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo D).
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Mai Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Thị T 08(T7) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2023.
Xử phạt: M1(Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2023.
Về vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu, tiêu hủy:
- - 0,101g (không phẩy một không một gam) các hạt tinh thể màu trắng dạng đá của phong bì ký hiệu M1; 6,728 g (sáu phảy bảy hai tám gam) các hạt tinh thể màu trắng dạng đá của phong bì ký hiệu M2 (là mẫu vật còn lại sau giám định) tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành;
- - 01 đoạn băng dính màu vàng và một đoạn ống nhựa màu hồng được đựng trong phong bì ghi “M1”; 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 6cm x 4,3cm; một đoạn băng dính màu đen bên trên có dính mảnh ni lông màu trắng; bốn đoạn băng dính màu vàng; sáu đoạn ống nhựa màu hồng và hai đoạn ống nhựa màu xanh được đựng trong một phong bì ghi “Nguyễn Thị T (M2)” tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành;
- - 01 Hộp phấn trang điểm hình tròn, màu trắng đường kính khoảng 07cm; 01 cuộn băng dính hình tròn màu đen, đường kính khoảng 05 cm; 01 cuộn băng dính hình tròn màu vàng, đường kính khoảng 06 cm; 02 kéo cắt chỉ màu đỏ, dài khoảng 10 cm; 23 ống hút nhiều màu sắc được bó bằng dây chun màu vàng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 chai nhựa ghi chữ Sting có nắp màu vàng, 01 ống hút màu trắng sọc đỏ và 01 ống thuỷ tinh dài khoảng 07 cm có bám dính khói màu đen.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - 01 (một) điện ĐTDĐ hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO, màn hình bị rạn nứt, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI 1 : 860646042764554, IMEI2: 860646042764547, tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành;
Trả lại cho bị cáo:
Nguyễn Thị T 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, loại có bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có số IMEI1: 354877082137723, IMEI 2: 354877082137731; trả lại cho bị cáo Mai Minh D 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Sphus, màu xám, bên trong có sim thuê bao số 0924.876.992 có số IMEI: 354991077864512
(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Bỉm Sơn ngày 20/12/2023).
9
- Buộc bị cáoNguyễn Thị T8 phải nộp lại số tiền 400.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí HSST cho bị cáo Mai Minh D.
Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa cho bị cáo D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/01/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Sang |
10
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Thanh, Dương phạm tội mua bán trái phép chất ma túyc
