|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HSST Ngày 09 tháng 01 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng- Quận đoàn
2. Ông Phùng Ngọc Toàn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 237/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 495/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với:
- Bị cáo Phạm Duy A, sinh năm 1998; HKTT: P403 nhà B3 TT L, Q, H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P302 nhà số B L (nhỏ), T, Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên bố: Phạm T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thu H (sinh năm 1975); H1 và tên vợ: Trần Thị O (sinh năm 1989); Bị cáo có 1 con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.
- Bị cáo Đoàn Thành C, sinh năm 1998; HKTT và nơi ở: Số A ngách C N, B, H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên bố: Đoàn Hồng T1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Dương Thị Hải Y (sinh năm 1974); Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Khúc Ngọc D, sinh ngày 07/8/2006; HKTT: Tổ 58 KDC T, Â, thành phố P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Số B ngõ B Đ, N, B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên bố: Khúc Quý P (sinh năm 1971); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Tuyết N (sinh năm 1980); Chồng con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.
- Ngày 08/01/2020, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2022. Chấp hành xong án phí ngày 21/02/2020. Bị cáo chưa được xóa án tích
Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ ngày 26/4/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/4/2023. Hủy bỏ quyết định tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/8/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người giám hộ cho bị cáo Khúc Ngọc D: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1980. HKTT và nơi ở: Số B ngõ B Đ, N, B, Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Khúc Ngọc D: Bà Bùi Thị Hải L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Thành Công quen biết Phạm Duy A từ năm 2021. Khoảng tháng 4/2023, C biết Duy A bán ma túy (thuốc lắc) nên đã nhận đi bán ma túy cho Duy A, Duy A thống nhất trả cho C 400.000đồng/lần đi bán ma túy. Cách thức mua bán ma túy: Khi có khách hỏi mua ma túy của Duy A thì sẽ liên lạc qua tin nhắn M báo cho C biết số lượng ma túy, địa chỉ, số điện thoại của người mua ma túy để C mang đi bán, sau đó Duy A sẽ chuyển khoản trả cho C tiền công. Khoảng giữa tháng 4/2023, Duy A liên lạc với một người đàn ông qua mạng T2 (không nhớ tên tài khoản) đặt mua 10 viên ma túy “thuốc lắc) với giá 2.500.000đồng. Sau khi chuyển khoản tiền xong (không nhớ số tài khoản), Duy A bảo người này giao 10 viên ma túy đến địa chỉ số B L, phường B, H cho Đoàn Thành C. Công nhận ma túy và cất giấu tại nhà của mình. Khoảng 19h00' ngày 25/4/2023, một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0926.890.xxx (là Nguyễn Hồng K, sinh năm 1989, HKTT: T, N, P, Hà Nội) gọi đến số điện thoại 0928.698.xxx của Duy A hỏi mua 04 viên ma túy “thuốc lắc”, Duy A đồng ý, người này chuyển khoản 1.400.000đồng từ tài khoản M1 số [...] đến tài khoản ngân hàng M1 số 09999999200998 của Duy A, sau đó người này bảo Duy A đem ma túy đến địa chỉ B Đ, B, Hà Nội rồi gọi vào số điện thoại 0372.133.xxx cho người mua. Sau khi hẹn với người mua ma túy, Duy A nhắn tin qua M bảo C mang 04 viên ma túy MDMA đến ngõ B Đ, B, Hà Nội để bán cho một người sử dụng số điện thoại 0372.133.079. C đã lấy 04 viên ma túy cho vào túi nilong bọc băng dính đen bên ngoài rồi rủ Khúc Ngọc D đi cùng đến địa chỉ Duy A đưa cho. Đến điểm hẹn, C gọi điện thoại vào số 0372.133.xxx cho người mua, rồi giao ma túy cho người này. Sau khi giao xong ma túy thì C chở D đi ăn rồi về nhà. Đến khoảng 21h51′ ngày 25/4/2023, Duy A tiếp tục bảo C mang 04 viên ma túy MDMA đến bán cho khách ở ngõ B Đ cùng số điện thoại 0372.133.xxx vừa giao lần trước. C lại lấy 04 viên ma túy cho vào túi nilong bọc băng dính đen bên ngoài rồi cùng D đi giao ma túy cho khách. Khi C chở D đến ngõ B Đ gặp người đàn ông hỏi mua ma túy, Công định đưa ma túy cho người này thì bị tổ công tác của Đội CSĐTTP về ma túy- C1 bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở người mua ma túy đã bỏ chạy thoát. Sau đó, tổ công tác đã đưa C và D cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ.
Về phía Đoàn Thành C: Ngoài việc C đồng phạm với Phạm Duy A về hành vi bán trái phép chất ma túy như nêu ở trên, khoảng 22h00' ngày 14/4/2023, C đặt mua qua ứng dụng mạng xã hội Telegram của một người đàn ông không quen biết 200 viên ma túy (thuốc lắc), 20 túi ketamine hết tổng cộng 50 triệu đồng để bán kiếm lời. C đã trực tiếp bán cho nhiều người khác nhau qua mạng xã hội Telegram hết 100 viên ma túy, 06 túi ketamine. Số ma túy cong lại C đang cất giấu tại nơi ở.
Về phía Khúc Ngọc D: Diệp không có việc làm đang ăn, ở cùng với C. Diệp biết việc C cất giấu ma túy trong tủ quần áo, biết C bán trái phép chất ma túy, nhiều lần D đã đi cùng C để giao ma túy cho người mua. Mục đích D đi cùng C sẽ ít bị lực lượng CSCĐ, chốt 141 phát hiện hơn là C đi một mình. Số tiền ma túy có được, D và C sử dụng tiêu xài cá nhân cùng nhau, ngoài ra khi nào D cần tiền C sẽ cho. Buổi tối ngày 25/4/2023 C và D hai lần mang ma túy đi bán, lần thứ nhất đã bán chót lọt, lần thứ hai chuẩn bị giao ma túy thì bị bắt quả tang như nêu trên.
Vật chứng thu giữ được của Đoàn Thành C:
- 01 túi nilong bên ngoài bọc băng dính màu đen, bên trong có 04 viên nén màu ghi;
- 01 ví giả da màu nâu bên trong có 200.000đồng;
- 01 ĐTDĐ Itel màu xanh đen (Sim: 0867.150.822; Imei: 3528531115121899);
- 01 xe máy Honda Vision màu trắng, BKS: 29D2- 547.38;
- 01 ĐTDĐ Nokia màu đen (của người mua ma túy).
- Khám xét nơi ở của Đoàn Thành C, thu giữ:
- Trong tủ quần áo tầng 02: 01 túi nilong bên trong có 14 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng: 01 túi nilong bên trong có 87 viên nén màu ghi;
- Trên mặt đệm ngủ tầng 02: 01 cân điện tử màu bạc, 10 túi nilong nhựa.
Vật chứng thu giữ được của Khúc Ngọc D: Số tiền 12.000đồng
Ngày 26/4/2023 Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở của Phạm Duy A tại: P304 C T, H, Hà Nội không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 2725A/KL-KTHS ngày 03/5/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận:
- “04 viên nén màu ghi bên trong 01 túi nilong bên ngoài bộc băng dính màu đen đều là ma túy MDMA, tổng khối lượng 1.293gam;
- Tinh thể màu trắng bên trong 14 túi nilong là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 3.429gam;
- 87 viên nén màu ghi bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 22.008gam;
- 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại Ketamine;
- 10 túi nilong đều không chứa chất ma túy.”
Qua quá trình giám định, Cơ quan giám định trích 0.319gam (của 04 viên nén màu ghi) làm mẫu còn lại 0.974gam chất ma túy loại MDMA; trích 0.312gam (của túi 14 túi nilong) làm mẫu còn lại 3.117gam chất ma túy loại Ketamine và trích 0.815gam (của 87 viên nén) làm mẫu còn lại 21.19gam chất ma túy loại MDMA trả lại Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Duy A, Đoàn Thành C, Khúc Ngọc D đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nêu trên. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Khúc Ngọc D được 16 tuổi 07 tháng 25 ngày.
Đối với người bán ma túy cho Phạm Duy A và người bán ma túy cho Đoàn Thành C: Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Đối với Nguyễn Hồng K là người liên lạc với Phạm Duy A để mua ma túy, và dùng tài khoản Ngân hàng M1 số: [...] để thanh toán: Quá trình điều tra xác minh K không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách tài liệu để tiếp tục điều tra, xác minh.
Đối với người đàn ông mua ma túy tại địa chỉ B Đ, tài liệu điều tra xác minh thuê bao số điện thoại 0372.133.xxx là Lê Đắc T3 (sinh năm 1952, địa chỉ: Xóm E, Đặng S, Đ, Nghệ An). Tại Cơ quan điều tra, anh T3 khẳng định không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên. Do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 13/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Phạm Duy A và Khúc Ngọc D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đoàn Thành C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Phạm Duy A, Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo Duy A xác nhận được hưởng lợi số tiền 3.200.000đồng từ hành vi mua bán ma túy, trong đó, bị cáo đã chuyển cho Đoàn Thành C số tiền 2 lần bán ma túy cho bị cáo Duy A mỗi lần 400.000đồng, tổng cộng là 800.000đồng. Bị cáo C xác nhận đã nhận của Duy A tổng số tiền 800.000đồng là tiền công từ việc bán ma túy cho Duy A.
- Người giám hộ cho Bị cáo Khúc Ngọc D trình bày: Bị cáo Khúc Ngọc D sinh ngày 07/8/2006 là người chưa thành niên, phạm tội vì còn trẻ dại, Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Khúc Ngọc D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Duy A, Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Khúc Ngọc D mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Duy A mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Đ Thành Công mức án từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 1,293gam ma túy loại MDMA đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 22,008gam ma túy loại MDMA và 3,429gam Ketamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 01 cân điện tử dính ma túy loại Ketmine và 10 túi nilong không dính ma túy đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 ví giả da màu nâu thu giữ của bị cáo Đoàn Thành C.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu đen, sim số 0347711884, số I: 3528531115121899 đã sử dụng; 01 điện thoại di động Itel màu xanh đen, sim số 0867150822, số I: 354569085344980 đã sử dụng thu giữ của bị cáo Đ Thành Công do bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy; 01 điện thoại di động N1 màu đen thu giữ của người mua ma túy; trả lại cho bị cáo Khúc Ngọc D số tiền 12.000đồng. Do sơ suất của Điều tra viên Vũ Đình T4 đã nộp nhầm số tiền thu của bị cáo Khúc Ngọc D là 12.000 đồng thành 20.000 đồng vào Ngân hàng TMCP C2 ngày 05/01/2024. Vì vậy đề nghị trả lại cho đồng chí Vũ Đình T4 8.000 đồng.
- Truy thu của bị cáo Phạm Duy A số tiền 2.400.000đồng; truy thu của bị cáo Đoàn Thành C số tiền 800.000đồng là tiền các bị cáo hưởng lợi bất chính từ việc mua bán ma túy, đã thu giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo C, bị cáo C còn phải bị truy thu tiếp số tiền 600.000đồng.
- Đối với chiếc xe nhãn hiệu Vision màu trắng BKS: 29D2-547.38 thu giữ của bị cáo Đoàn Thành C, bị cáo Công khai là xe của bị cáo, bị cáo đứng tên trên Giấy đăng ký xe, bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Khúc Ngọc D gửi bài bào chữa cho bị cáo thể hiện quan điểm: Nhất trí với tội danh và điều luật theo truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Khúc Ngọc D. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo là người chưa thành niên thiếu hiểu biết, thiếu nhận thức pháp luật dễ vướng vào cạm bẫy, tệ nạn xã hội. Bị cáo không trực tiếp tham gia vào việc mua bán ma túy với C. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Khúc Ngọc D, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của Phòng K1 Công an thành phố H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Với mục đích mua ma túy để bán kiếm lời, các bị cáo Phạm Duy A, Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D đã nhiều lần mua bán ma túy cụ thể như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2023, Đoàn Thành C biết Phạm Duy A bán ma túy (thuốc lắc) và đã nhận đi bán ma túy cho Duy A. Duy A thống nhất trả cho C 400.000đồng/ 1 lần đi bán ma túy. Tháng 4/2023, Công nhận của Phạm Duy A 10 viên ma túy “thuốc lắc” để bán cho người khác.
Khoảng 19 giờ ngày 25/4/2023, Phạm Duy A liên lạc với Đoàn Thành C qua tin nhắn M bảo C mang ma túy đến khu vực ngõ B Đ, B, Hà Nội để bán 04 viên thuốc lắc cho một người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 0372.133.xxx. C chở Khúc Ngọc D đến địa chỉ trên và giao 04 viên thuốc lắc cho người đàn ông trên. Lần thứ khai, khoảng 21 giờ 51 phút cùng ngày 25/4/2023, Duy A tiếp tục bảo C mang 04 viên thuốc lắc đến bán cho người đàn ông lần trước tại địa chỉ ngõ B Đ, B, Hà Nội. C tiếp tục chở D đến giao ma túy cho người đàn ông này. Tại đây, C chưa kịp giao 4 viên thuốc lắc là ma túy loại MDMA có khối lượng 1,293 gam thì bị Tổ công tác - Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an quận B phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng, lợi dụng sơ hở đối tượng mua ma túy bỏ chạy thoát. Đối với 02 lần bán ma túy này, Duy A đã nhận đủ số tiền bán ma túy là 3.200.000đồng của người mua ma túy và đã chuyển cho C số tiền công của 2 lần bán ma túy là 800.000đồng.
Ngoài ra, Đoàn Thành C tự mua về và đang tàng trữ tại nơi ở (P302 nhà số B L (nhỏ), T, Đ, Hà Nội) tổng khối lượng 3,429gam ma túy loại Ketamine và 87 viên nén màu ghi ma túy loại MDMA tổng khối lượng 22,008gam mục đích để bán cho người khác. Công khai số ma túy trên C mua của một người không quen biết tổng cộng 200 viên ma túy thuốc lắc và 20 túi Ketamine hết tổng cộng 50 triệu đồng, mục đích để bán kiếm lời. Ngoài 02 lần bán ma túy cho Duy A ngày 25/4/2023, C cũng đã nhiều lần bán ma túy cho người khác từ số ma túy mà C mua về, số ma túy còn lại của C là 87 viên thuốc lắc và 3,429gam ma túy loại Ketamine.
Khúc Ngọc D chung sống cùng C và là người yêu của C. Diệp biết C mua bán ma túy, và đã nhiều lần đi cùng C để giao ma túy cho người mua. Mục đích D đi cùng C để tránh lực lượng Cảnh sát cơ động 141 phát hiện hơn là C đi một mình. Số tiền có được từ việc bán ma túy, D và C sử dụng chung vào việc tiêu sài cá nhân. Ngày 25/4/2023, D đã cùng C đi bán ma túy 2 lần như trên.
Bị cáo Duy A, C và D đã hai lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy vào ngày 25/4/2023. Ngoài ra, bị cáo C và D còn nhiều lần thực hiện hành vi bán ma túy trước đó. Mục đích của các bị cáo để kiếm lời từ việc mua bán ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Hai bị cáo C và Duy A đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội khi mới 16 tuổi 7 tháng 25 ngày. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, và đều phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của hai bị cáo Duy A, D đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Hành vi của hai bị cáo C đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy là vấn nạn nhức nhối trong xã hội bởi những tác hại rất lớn mà ma túy gây ra cho sức khỏe con người, ma túy cũng là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Phạm Duy A có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, thể hiện bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng bị cáo không tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục đi vào con đường lầm lạc, phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định của điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo C và D không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, thái độ của các bị cáo là thành khẩn nhận tội, thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, cho các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, cũng là thể hiện tính chất khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Riêng đối với bị cáo Khúc Ngọc D phạm tội khi mới 16 tuổi 7 tháng 25 ngày, vì vậy mức hình phạt tù đối với bị cáo Khúc Ngọc D không quá 3/4 mức hình phạt mà điều luật quy định theo quy định tại Điều 101 BLHS. Bị cáo tham gia giúp sức cho Công bằng hình thức đi cùng C bán ma túy để tránh bị lực lượng CSCĐ 141 chú ý chứ bị cáo không trực tiếp mua bán ma túy. Bị cáo có được hưởng lợi từ việc C bán ma túy. Do đó, vai trò của bị cáo D là thứ yếu trong vụ án.
Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 1,293gam ma túy loại MDMA đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 22,008gam ma túy loại MDMA và 3,429gam Ketamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 01 cân điện tử dính ma túy loại Ketmine và 10 túi nilong không dính ma túy đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 ví giả da màu nâu thu giữ của bị cáo Đoàn Thành C.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu đen, sim số 0347711884, số I: 3528531115121899 đã sử dụng; 01 điện thoại di động Itel màu xanh đen, sim số 0867150822, số I: 354569085344980 đã sử dụng thu giữ của bị cáo Đ Thành Công do bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy; 01 điện thoại di động N1 màu đen thu giữ của người mua ma túy; số tiền 12.000đồng thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc D. Điều tra viên Vũ Đình T4 do sơ suất trong quá trình nộp tiền tang vật vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình nên đã nộp nhầm số tiền thu của bị cáo Khúc Ngọc D là 12.000 đồng thành 20.000 đồng. Vì vậy cần trả lại cho đồng chí Vũ Đình T4 số tiền 8.000 đồng.
- Truy thu của bị cáo Phạm Duy A số tiền 2.400.000đồng; truy thu của bị cáo Đoàn Thành C số tiền 800.000đồng là tiền các bị cáo hưởng lợi bất chính từ việc mua bán ma túy, đã thu giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo C, bị cáo C còn phải bị truy thu tiếp số tiền 600.000đồng.
- Đối với chiếc xe nhãn hiệu Vision màu trắng BKS: 29D2-547.38 thu giữ của bị cáo Đoàn Thành C, bị cáo Công khai là xe của bị cáo, bị cáo đứng tên trên Giấy đăng ký xe, bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Duy A.
- Căn cứ vào điểm b, p khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đoàn Thành C.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Khúc Ngọc D.
Tuyên bố: các bị cáo Phạm Duy A, Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Duy A 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thành C 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Khúc Ngọc D 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 23/8/2023.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 1,293gam ma túy loại MDMA đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 22,008gam ma túy loại MDMA và 3,429gam Ketamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 01 cân điện tử dính ma túy loại Ketmine và 10 túi nilong không dính ma túy đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 ví giả da màu nâu.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu đen, sim số 0347711884, số I: 3528531115121899 đã sử dụng; 01 điện thoại di động Itel màu xanh đen, sim số 0867150822, số I: 354569085344980; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; số tiền 12.000đồng thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc D.
- Trả lại cho Điều tra viên Vũ Đình T4 số tiền 8.000 đồng.
- Truy thu của bị cáo Phạm Duy A số tiền 2.400.000đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng);
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo C. Truy thu của bị cáo C số tiền 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Vision màu trắng BKS: 29D2-547.38 số khung RLHJF5833LZ019138, số máy JF86E7019115.
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 66 ngày 28/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào Ngân hàng TMCP C2 ngày 05/01/2024.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Phạm Duy A, Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo, người giám hộ, người bào chữa của bị cáo Khúc Ngọc D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Dương Thị Sen |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Dương Thị Sen |
Bản án số 01/2024/HSST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tội mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Duy A; Đoàn Thành C và Khúc Ngọc D
