TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 01 năm 2024
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Anh Dũng.
- Ông Nguyễn Lâm Giang.
- * Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
- * Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 210/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2023, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991 (Có mặt)
- Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
- Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang chấp hành án tại: Đ, P, Trại giam T1, Cục C, Bộ C1.
- Địa chỉ trại giam: Xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 25/9/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn ngày 14/11/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục. Sau khi kết hôn, chị và anh Đ về chung sống với nhau tại gia đình anh Đ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ tháng 10/2018 phát sinh mâu thuẫn do anh Đ chơi bời, không chịu làm ăn, không quan tâm đến vợ con và vợ chồng hay cãi nhau. Đến tháng 04/2022 thì vợ chồng chị sống ly thân nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Chị M xác nhận vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018. Chị đang làm công nhân, lương của chị là 8.000.000 đồng/tháng, anh Đ hiện đang cải tạo tại Trại giam T1, Cục C, Bộ C1. Chị có nơi ở ổn định và đang nuôi dưỡng con chung là cháu H từ khi ly thân đến nay. Ly hôn chị xin được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Minh H. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị M có mặt và giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh Đ, ý kiến về con chung.
* Tại Bản tự khai ghi ngày 24/10/2023 và các lời khai tiếp theo bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị M kết hôn với nhau ngày 14/11/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn của anh, chị là tự nguyện, có tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Thị M về gia đình anh chung sống. Quá trình chung sống, vợ chồng anh xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và anh phải đi chấp hành án. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị Nguyễn Thị M làm đơn xin ly hôn thì anh đồng ý.
* Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là 01 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018. Khi ly hôn, thì anh yêu cầu chị M nuôi dưỡng con chung là Nguyễn minh H1 vì hiện nay anh đang cải tạo. Anh không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh xin xét xử vắng mặt tại các phiên tòa.
* Tại biên bản xác minh ngày 13/12/2023, ông Diêm Đăng Đ1– Trưởng thôn Trong, xã T cho biết: Anh Nguyễn Văn Đ là công dân của thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Anh Đ kết hôn với chị Nguyễn Thị M Yến năm 2017, có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới giữa hai bên gia đình. Sau khi kết hôn chị M về gia đình anh Đ làm dâu. Thời gian gần đây thì vợ chồng chị M, anh Đ phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và anh Đ phạm tội nên đang phải đi chấp hành án phạt tù.
Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng không tiến hành hòa giải được.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 55, Điều 58, ; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 01 Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018.
- - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 01 khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị có thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 4/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau. Vợ chồng đã ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị M, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng chị M, anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự nhất là quyền lợi mọi mặt của trẻ em. Xét điều kiện nuôi con thấy: Hiện tại cháu Nguyễn Minh H còn nhỏ, đang do chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện cháu Nguyễn Minh H đang phát triển bình thường. Chị M đang làm công nhân, có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống và đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Anh Đ đang chấp hành án và có ý kiến để chị M nuôi con chung, Nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng của chị M. Cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con chung của chị M như hiện nay. Giao cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018 là đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu H và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Nguyễn Văn Đ không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị M, anh Đ không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 01 khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 21/6/2018.
Anh Nguyễn Văn Đ được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị M, anh Đ không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0000594 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị M xin ly hôn anh Nguyễn Văn Đ
