TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 09 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Phạm Văn Liệt.
Ông: Lê Văn Dài.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang -Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Minh Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984, tại: tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D, sinh năm 1956 (chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1956; vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn Công M (tên gọi khác: Minh K), sinh năm 1972, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1954 (chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; vợ là Hồ Thị L1, sinh năm 1986 và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 28/7/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số: 25/HSST; ngày 31/8/2001 bị UBND tỉnh Đ ra Quyết định vào cơ sở giáo dục 12 tháng tại Quyết định số: 1313/QĐ; ngày 14/12/2010 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 56/HSST; bị cáo đầu thú và bị bắt tạm giữ ngày 26/4/2021; tạm giam ngày 29/4/2021; cho tại ngoại ngày 20/9/2021. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Họ và tên: Trương Long H (tên gọi khác: Đ1), sinh năm 1992, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Lệ H1, sinh năm 1959; vợ là Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Long H: Bà Huỳnh Thị Quỳnh H2 là Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, có mặt.
- Họ và tên: Trần Quốc T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Phan Thị H3, sinh năm 1950; vợ là Trần Thị Trúc C1, sinh năm 1972 và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ ngày 17/4/2022; tạm giam 18/4/2022, cho tại ngoại ngày 25/10/2022. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Họ và tên: Đặng Minh T4 (tên gọi khác: Lý T5), sinh năm 1983, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D, sinh năm 1956 (chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1956; vợ là Võ Thị Tuyết L2, sinh năm 1983 (chết) và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1968.
Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Ấp Thị, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
- Ông Lê Phương Đ2, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Bà Huỳnh Thị T6, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1972.
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T8, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Ấp Thị, xã A, huyện T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Ông Phạm Đăng K2, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
- Ông Nguyễn Phát H5, sinh năm 1950.
Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 55 phút, ngày 30/10/2020, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã A, kiểm tra, bắt quả tang hành vi đánh bạc với hình thức đá gà và lắc tài xỉu được thua bằng tiền, tại phần đất của ông Nguyễn Phát H5, sinh năm 1950, thuộc ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tạm giữ tại 02 chiếu bạc gồm: Số tiền 5.500.000 đồng, 01 hộp nhựa màu đỏ, đen, trắng bên trong có số tiền 3.500.000 đồng, 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành màu trắng, 01 nắp nhựa màu đỏ; 01 tấm mũ nhựa màu xanh có ghi chữ T9 - Xỉu và nhiều con số, 12 con gà trống, 01 quyển tập học sinh, 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa loại 05kg, 04 cặp cựa sắt, 06 cuộn băng keo chưa sử dụng, tạm giữ trên người các đối tượng liên quan số tiền 8.660.000 đồng, 08 điện thoại di động các loại, 33 xe mô tô các loại. Qua đó, đã mời 12 người có mặt tại địa điểm đánh bạc về làm việc gồm: Phạm Đăng K2, Nguyễn Hữu C2, Nguyễn Thị T8, Nguyễn Văn T7, Đặng Minh T4 (L), Trần Thị P, Nguyễn Thị Kim H4, Huỳnh Thị T6, Lê Thị T10, Nguyễn Văn Đ3, Sím K, Nguyễn Thị Diễm E. Sau đó, mời thêm 19 người để làm việc gồm: Nguyễn Văn Công M (Minh K), Đăng Minh Đ4, Trương Long H (Đ), Trần Quốc T2, Nguyễn Văn D1, Trần Văn T11, Lê Văn Đ5, Lê Văn K3, Nguyễn Văn H6, Dương Trọng H7, Nguyễn Văn M, Đặng Thị P1, Trần Phong V, Nguyễn Sơn B1, Dương Văn T12, Trương Văn N1, Lê Phương Đ2, Nguyễn Thị Ngọc B, Huỳnh Thị N.
Quá trình điều tra, hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc được thể hiện như sau:
- Hình thức đá gà được thực hiện như sau: Việc đá gà được tính từng trận gà, theo đó, chủ gà mang 02 con gà đem cân trên cân đồng hồ loại 05kg để xác định trọng lượng (mục đích để đưa ra số tiền cá cược), sử dụng 02 cặp cựa sắt và sử dụng băng keo để băng (buộc) chặt vào hai chân gà. Chủ gà tự thỏa thuận số tiền cá cược với nhau, gọi là đá sổ. Trong lúc đá, gà của bên nào chết hoặc bỏ chạy thì thua cược, nếu gà của hai bên cùng bỏ chạy hoặc cùng chết thì hòa nhau. Sau khi hai bên chủ gà đã thỏa thuận xong số tiền cá cược, cách thức cá cược thì chủ gà sử dụng băng keo, cựa sắt băng (buộc) chặt vào hai chân gà, thông báo cho người làm trọng tài biết và thả gà cho đá nhau. Lúc này, những người đứng xem (các con bạc khác) có thể tham gia bằng hình thức phóng bắt thông qua người đá biện (tức là người trung gian nhận cược của người phóng rồi phóng lại cho người khác bắt, để hưởng tiền hoa hồng) hoặc tự phóng bắt qua lại với nhau bên ngoài, gọi là phóng bắt hàng sáo. Người đá biện hưởng hoa hồng theo thỏa thuận với người phóng bắt, người tổ chức thu tiền xâu 10% một trận gà từ người đá sổ thắng cược.
- Hình thức lắc tài xỉu được thực hiện như sau: Các đối tưởng sử dụng 01 tấm bạc ghi chữ “T” là tượng trưng cho “T9” và chữ “X” tượng trưng cho “Xỉu”; một cái đĩa sành, một cái nắp nhựa để úp (chụp) lên cái đĩa, 03 hột (hạt) xí ngầu, mỗi hột xí ngầu có 06 mặt, mỗi mặt có từ 01 đến 06 nút.
Việc thắng thua được xác định bằng điểm: “Xỉu” được tính từ 04 đến 10 điểm; “Tài” được tính từ 11 đến 17 điểm; “Bão” là ba mặt giống nhau, như 03 mặt cùng 01 nút là 03 điểm, 03 mặt cùng 02 nút là 06 điểm, 03 mặt cùng 03 nút là 09 điểm, 03 mặt cùng 04 nút là 12 điểm, 03 mặt cùng 05 nút là 15 điểm, 03 mặt cùng 06 nút là 18 điểm, trong đó bão Xỉu thì có 03 điểm, 06 điểm và 09 điểm, bão T9 thì có 12 điểm, 15 điểm, 18 điểm; nếu nhà cái bão T9 thì thắng hết bên X, nếu bão Xỉu thì thắng hết bên T9, bên còn lại thì không thắng cũng không thua (hòa).
Khi thực hiện, 01 người làm cái gọi là tụ nhà cái, 02 đến 03 người chung chi tiền cược gọi là dĩ (được nhà cái thuê), người đặt cược gọi là người đặt tụ, giữa tụ nhà cái và người đặt tụ thắng thua trực tiếp với nhau. Trường hợp, nhà cái “Bão” thì người tổ chức được hưởng lợi 50% tiền bão.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được thể hiện như sau:
- Bị cáo Đặng Minh Đ khai nhận: Bị cáo tổ chức đánh bạc với hình thức đá gà và lắc tài xỉu được thua bằng tiền, mục đích tổ chức để thu tiền xâu với tỷ lệ 10% đối với 01 trận gà từ người đá sổ và 50% tiền bão đối với 01 lần bão. Theo đó, bị cáo Đ đến khu đất trống của ông Nguyễn Phát H5 thuộc ấp B, xã A, huyện T để tổ chức đánh bạc. Nhằm phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc, bị cáo là người trực tiếp chuẩn bị các loại dụng cụ như: Hột xí ngầu, đĩa sành màu trắng, tấm mũ nhựa, cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa loại 05kg ... Để tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho con bạc đến tham gia, bị cáo thuê Trương Long H (Đực) làm trọng tài, phân xử thắng thua các trận gà và thuê Nguyễn Văn Công M trông coi sòng lắc tài xỉu, quan sát người lắc cái có để tiền bão vào thùng bão khi có bão hay không.
Bị cáo tổ chức đánh bạc từ ngày 27/10/2020 cho đến khoảng 13 giờ 55 phút ngày 30/10/2020 thì bị lực lượng Công an phát hiện và bị bắt quả tang. Trong khoảng thời gian tổ chức, bị cáo thu lợi được số tiền 8.200.000 đồng (từ ngày 27/10/2020 đến ngày 29/10/2020 là thu lợi tổng cộng là 4.500.000 đồng, riêng ngày 30/10/2020 thu lợi số tiền 3.700.000 đồng). Bị cáo đã trả tiền công cho bị cáo H số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo chưa trả tiền công cho bị cáo M.
- Bị cáo Nguyễn Văn Công M khai nhận: Ngày 30/10/2020, bị cáo mang theo số tiền 2.000.000 đồng, điều khiển xe mô tô biển số 66N1- 040.24 đến điểm đánh bạc nêu trên và tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền với vai trò là người đặt tụ. Tại đây, bị cáo M tham gia đặt 02 bàn, bàn thứ nhất đặt 500.000 đồng, kết quả thua; bàn thứ 2 đặt số tiền 500.000 đồng chưa biết thắng thua thì bị bắt quả tang, để lại chiếu bạc số tiền 500.000 đồng và 01 xe mô tô nêu trên còn M thì chạy thoát. Bị cáo M đã thừa nhận hành vi phạm tội đánh bạc như đã nêu trên nhưng không thừa nhận hành vi giúp sức cho bị cáo Đ tổ chức đánh bạc.
- Bị cáo Trương Long H khai nhận: Bị cáo được Đặng Minh Đ thuê làm trọng tài, phân định thắng thua đối với hình thức đá gà tại địa điểm nêu trên, tiền công 500.000 đồng/ngày. Khoảng 09 giờ ngày 30/10/2020, bị cáo H điều khiển xe 67L1- 438.25 đến địa điểm đánh bạc nêu trên để giúp bị cáo Đ làm trọng tài đá gà, bị cáo làm trọng tài được 02 trận gà, khi trận đá gà thứ 3 sắp diễn ra thì bị bắt quả tang. Bị cáo Trương Long H đã giúp sức cho bị cáo Đ làm trọng tài từ ngày 27/10/2020 đến ngày 30/10/2020, được bị cáo Đ trả công với số tiền 1.000.000 đồng.
- Bị cáo Trần Quốc T2 khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/10/2020, bị cáo T2 đến địa điểm đánh bạc nêu trên để tham gia đánh bạc với hình thức làm dĩ cho người nhà cái tên H8 (không rõ họ tên, địa chỉ). Nhiệm vụ của Thế là giúp người nhà cái chung chi tiền đặt cược cho các con bạc và hưởng tiền công từ nhà cái khi có bão. Ngày 30/10/2020, bị cáo T2 làm dĩ cho H8 được 01 lần bão, nhận được tiền công là 100.000 đồng, khi đang diễn ra hoạt động lắc tài xỉu thì bị bắt quả tang.
- Bị cáo Đặng Minh T4 khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/10/2020, bị cáo T4 điều khiển xe mô tô biển số 37K1- 8104 đến địa điểm đánh bạc nêu trên để tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu với vai trò người đặt tụ. Tại đây, bị cáo Thông sử dụng số tiền 300.000 đồng tham gia đặt 02 bàn, bàn thứ nhất đặt 200.000 đồng, kết quả thua; bàn thứ 2 đặt số tiền 100.000 đồng chưa biết thắng thua thì bị bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ, gồm:
- 12 con gà là vật chứng trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã lập biên bản tiến hành tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Tiền thu giữ tại chiếu bạc là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng), là vật chứng vụ án nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
- 01 hộp nhựa màu đỏ, đen, trắng, 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành màu trắng, 01 nắp nhựa màu đỏ; 01 tấm mũ nhựa màu xanh có ghi chữ T9 - Xỉu và nhiều con số, 01 quyển tập học sinh, 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa loại 05kg, 04 cặp cựa sắt, 06 cuộn băng keo chưa sử dụng, đây là vật chứng trong vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Số tiền 8.660.000 đồng, 08 điện thoại di động các loại, đã qua sử dụng. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tiền và điện thoại di động nêu trên cho các chủ sở hữu.
- 33 xe mô tô các loại tại khu vực đánh bạc. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại 28 xe môtô cho các chủ sở hữu. Hiện nay, còn 05 xe môtô gồm: Xe môtô biển số 66K2-1670, xe môtô biển số 66P1-2412, xe môtô biển số 61N3- 2527, xe môtô biển số 66F3- 9257, xe môtô biển số 66B1-034.55. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, đã tách hồ sơ cùng phương tiện, thông báo truy tìm chủ sở hữu để xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 USB lưu trữ nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Đặng Minh Đ là 3.700.000 đồng, bị cáo Trương Long H là 1.000.000 đồng (bị cáo H đã nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình); đối với số tiền 100.000 đồng bị cáo T2 sử dụng để đánh bạc, số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo M sử dụng để đánh bạc, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSTB ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố các bị cáo Đặng Minh Đ, Trương Long H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Công M phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; các bị cáo Trần Quốc T2, Đặng Minh T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên quyết định truy tố.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322 điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Minh Đ từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù giam về tội “Tổ chức đánh bạc”;
Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung bị cáo Đ số tiền từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Công M từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù giam về tội “Tổ chức đánh bạc”; Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Công M từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù giam.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Long H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù giam về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình xử phạt bị cáo Trần Quốc T2 từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17. Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình xử phạt xử phạt Đặng Minh T4 từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Đánh bạc”.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết như phần Quyết định của Cáo trạng
Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H2 bào chữa cho bị cáo H trình bày: Thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính nuôi cha, mẹ và con nhỏ, mức thu lợi của bị cáo không đáng kể, bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo H.
Trong phần tranh luận, các bị cáo thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên và thừa nhận quan điểm kết tội của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng không oan sai nên không tranh luận với Kiểm sát viên.
Riêng bị cáo M thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về tội đánh bạc; bị cáo không thừa nhận hành vi tổ chức đánh bạc và không thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về tội Tổ chức đánh bạc nhưng không đưa ra ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo Đặng Minh Đ nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng hình thức phạt tiền để bị cáo nuôi con, nuôi dưỡng mẹ già.
Bị cáo Nguyễn Văn Công M nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng hình thức phạt tiền để nuôi dưỡng mẹ già.
Bị cáo Trương Long H nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo áp dụng hình thức phạt tiền để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội và nuôi con nhỏ, nuôi dưỡng cha, mẹ già.
Bị cáo Trần Quốc T2 nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo áp dụng hình thức phạt tiền để bị cáo nuôi mẹ già.
Bị cáo Đặng Minh T4 nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng hình thức phạt tiền để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, các đương sự đã cung cấp lời khai đầy đủ đúng quy định. Cho nên, việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến đường lối giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa các bị cáo thống nhất tiếp tục việc xét xử vụ án. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1] Về hành vi tổ chức đánh bạc:
- Bị cáo Đặng Minh Đ đã tổ chức cho nhiều người đánh bạc được thua bằng tiền với 02 hình thức lắc tài xỉu và đá gà, mục đích tổ chức để thu tiền xâu với tỷ lệ 10% đối với 01 trận gà từ người đá sổ và 50% tiền bão đối với 01 lần nhà cái bão. Để tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho con bạc đến tham gia, bị cáo thuê Trương Long H (Đực) làm trọng tài, phân xử thắng thua các trận gà và thuê Nguyễn Văn Công M trông coi sòng lắc tài xỉu.
- Bị cáo Trương Long H thống nhất, bị cáo được bị cáo Đ thuê làm trọng tài, phân định thắng thua đối với hình thức đá gà, được bị cáo Đ trả công với số tiền 1.000.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Văn Công M không thừa nhận hành vi giúp sức cho bị cáo Đ tổ chức đánh bạc. Tuy nhiên, theo kết quả lời khai ngày 15/11/2021 và đối chất ngày 17/11/2021, bị cáo Đ khai nhận đã phân công bị cáo M trực tiếp trông coi, kiểm tra sòng lắc tài xỉu, mục đích khi có bão tài hoặc bão xỉu thì người nhà cái có để tiền vào thùng không; kết quả ghi lời khai và nhận dạng của Huỳnh Thị N, Nguyễn Thị Ngọc B, Lê Phương Đ2, Nguyễn Văn D1, Đặng Minh T4 đều thể hiện bị cáo M và bị cáo Đ là người tổ chức đánh bạc.
Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo xác định, bị cáo chỉ tham gia hình thức lắc tài xỉu với vai trò là người đặt tụ, mỗi tụ có thời gian thực hiện khoảng 01 phút, khoảng thời gian còn lại bị cáo đi vòng vòng sòng tài xỉu nhưng bị cáo không xác định được bị cáo đi vòng vòng tại sòng tài xỉu với mục đích để làm gì. Trong khi đó, bị cáo Đ xác định thuê bị cáo với nhiệm vụ là đi vòng vòng tại sòng tài xỉu để trông coi.
Như vậy, có đủ căn cứ chứng minh hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Công M phạm tội tổ chức đánh bạc với vai trò giúp sức trong coi sòng tài xỉu cho bị cáo Đ.
Các bị cáo thừa nhận, công cụ đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc đều do các bị cáo chuẩn bị, khi bắt quả tang số lượng người tham gia đánh bạc trên 30 người, tham gia với 02 hình thức lắc tài xỉu và đá gà được thua bằng tiền.
Như vậy hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích trục lợi cá nhân. Khi thực hiện hành vi tổ chức, trông coi, hướng dẫn các con bạc thực hiện hiện hành vi đánh bạc thì các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Đặng Minh Đ, Trương Long H, Nguyễn Văn Công M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
· Tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên hoặc hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên”.
[2.2] Hành vi đánh bạc:
- Bị cáo Nguyễn Văn Công M mang theo số tiền 2.000.000 đồng và tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền với vai trò là người đặt tụ. Tại đây, bị cáo M tham gia đặt 02 bàn, bàn thứ nhất đặt 500.000 đồng, kết quả thua; bàn thứ 2 đặt số tiền 500.000 đồng chưa biết thắng thua thì bị bắt quả tang.
- Bị cáo Trần Quốc T2 tham gia với hình thức làm dĩ cho người nhà cái tên H8. Nhiệm vụ của Thế là giúp người nhà cái chung chi tiền đặt cược cho các con bạc và hưởng tiền công từ nhà cái khi có bão.
- Bị cáo Đặng Minh T4 tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu với vai trò người đặt tụ. Bị cáo sử dụng số tiền 300.000 đồng tham gia đặt 02 bàn, bàn thứ nhất đặt 200.000 đồng, kết quả thua; bàn thứ 2 đặt số tiền 100.000 đồng chưa biết thắng thua thì bị bắt quả tang.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền hay hiện vật dưới bất kỳ hình thức nào là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Khi thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Công M, Trần Quốc T2 và Đặng Minh T4 đã yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự có quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Ngoài ra, trong vụ án này Tòa án đã trả điều tra bổ sung nhiều lần đối với những người bị bắt quả tang tại sòng bạc để tránh bỏ lọt tội nhưng Viện kiểm sát không truy tố bổ sung thêm các đối tượng tham gia đánh bạc nên Hội đồng xét xử chỉ xét xử theo giới hạn truy tố của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Trong thời gian vừa qua việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc diễn ra khá phổ biến, là nổi lo cho nhiều người cũng như các cấp chính quyền. Vì, đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy như làm cho gia đình lâm vào cảnh khó khăn, mất hạnh phúc, thậm chí còn là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo bị xã hội và người dân lên án nên việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời mang tính răn đe giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Trong vụ án này, vai trò của từng bị cáo được thể hiện như sau:
[4.1] Bị cáo Đặng Minh Đ là người chủ mưu tổ chức cho các con bạc đánh bạc với nhau để bị cáo thu xâu, cho nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo từ bỏ hành vi tổ chức đánh bạc.
[4.2] Bị cáo Trương Long H là người đã giúp sức tích cực cho bị cáo Đ trong việc tổ chức đánh bạc. Bị cáo được bị cáo Đ phân công làm trọng tài các trận gà, trên thực tế bị cáo đã nhận tiền công từ bị cáo Đ với số tiền là 1.000.000 đồng. Hành vi này của H cũng nguy hiểm và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo từ bỏ hành vi tổ chức đánh bạc.
[4.3] Bị cáo Nguyễn Văn Công M cũng là người đã giúp sức tích cực cho bị cáo Đ trong việc tổ chức đánh bạc. Bị cáo được bị cáo Đ phân công trong coi sòng tài xỉu, nhưng chưa được bị cáo Đ trả tiền công. Ngoài ra, bị cáo M còn trực tiếp tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu, số tiền mỗi bàn đặc cược là 500.000 đồng. Bản thân bị cáo M là người có nhân thân xấu nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo từ bỏ hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc.
[4.4] Bị cáo Trần Quốc Thế là người làm dĩ cho cái đánh bạc với nhiều người thể hiện tính chuyên nghiệp giúp sức tích cực cho người nhà cái trong việc quản lý từng ván và trực tiếp thu tiền thắng cược và chung chi khi thua cược, bị cáo không bỏ tiền ra nhưng được hưởng lợi từ nhà cái là mắc xích quan trọng trong việc thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo từ bỏ hành vi đánh bạc.
[4.5] Bị cáo Đặng Minh T4 tham gia đánh bạc 02 bàn với số tiền là 300.000 đồng, mức sát phạt không lớn nhưng cũng nguy hiểm nên phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo từ bỏ hành vi đánh bạc.
[5] Về hình phạt bổ sung: Đối với hành vi Tổ chức đánh bạc của bị cáo Đ cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Các bị cáo còn lại không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính, có thành tích xuất sắc công tác, học tập, có ông nội, ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bản thân bị cáo H chưa có tiền án tiền sự, đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo M sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo hành vi đánh bạc. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội Đánh bạc; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo về tội danh Tổ chức đánh bạc.
Bị cáo T2 đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có cha được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo T4 đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ông nội, ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng thu giữ và xử lý gồm:
- Tiền thu giữ tại chiếu bạc là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Xét thấy, đây là vật chứng vụ án nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
- 01 hộp nhựa màu đỏ, đen, trắng, 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành màu trắng, 01 nắp nhựa màu đỏ; 01 tấm mũ nhựa màu xanh có ghi chữ T9 - Xỉu và nhiều con số, 01 quyển tập học sinh, 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa loại 05kg, 04 cặp cựa sắt, 06 cuộn băng keo chưa sử dụng. Xét thấy, đây là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- 01 USB. Xét thấy, đây là vật chứng lưu trữ nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- T13 thu lợi bất chính của bị cáo Đặng Minh Đ là 3.700.000 đồng, bị cáo Trương Long H là 1.000.000 đồng (bị cáo H đã nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình); đối với số tiền 100.000 đồng bị cáo T2 sử dụng để đánh bạc, số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo M sử dụng để đánh bạc. Xét thấy, đây là tiền thu lợi bất chính và tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
- Đối với các vật chứng khác đã được xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[9] Xét đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo H về việc đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khung hình phạt của bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, đối với đề nghị áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Minh Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh Đ 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Đặng Minh Đ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Công M (Minh K) phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Công M (Minh K) 01 (Một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc và 06 (S) tháng tù về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo M phải chấp hành là 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Long H (Đực) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trương Long H (Đực) 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T2 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T2 06 (Sáu) tháng 08 (T14) ngày tù nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam. Như vậy, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T4 (L) phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh T4 (L) 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 hộp nhựa màu đỏ, đen, trắng có mã số, 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành màu trắng, 01 nắp nhựa màu đỏ; 01 tấm mũ nhựa màu xanh có ghi chữ T9 - Xỉu và nhiều con số, 01 quyển tập học sinh, 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa loại 05kg, 04 cặp cựa sắt, 06 cuộn băng keo chưa sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
+ 9.000.000 đồng thu trên chiếu bạc.
+ 3.700.000 đồng thu của bị cáo Đ.
+ 1.000.000 đồng thu của Trương Long H.
(Các vật chứng và tài sản nêu trên hiện do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý)
+ Buộc bị cáo Trần Quốc T2 nộp lại số tiền 100.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
+ Buộc Nguyễn Văn Công M nộp lại số tiền 1.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước;
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đặng Minh Đ, Nguyễn Văn Công M, Trương Long H, Trần Quốc T2, Đặng Minh T4 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hồng Biên |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh Đức phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
