Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST

Ngày: 09-01-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Phú Sang

Các Hội thẩm nhân dân.

1/ Ông Trần Văn Tảo;

2/ Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Kim T1, sinh năm 1980, cùng nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ C, khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản uỷ quyền ngày 28/7/2023.

- Bị đơn: ông Mai Phước T2, sinh năm 1978 và bà Đặng Thị Tuyết N, sinh năm 1974, cùng nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Mai Thị Kim H, sinh năm 1999, nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Ông D, ông T2 có mặt; bà N, chị H, ông T, bà T1 vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/7/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn D trình bày:

Vào ngày 10/8/2022, vợ chồng ông T, bà T1 cùng vợ chồng ông T2, bà N có thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên các bên ký kết đặt cọc để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có diện tích 130m² (5m x 26m), trong đó có 50m² loại đất ở nông thôn, phần đất chuyển nhượng thuộc một phần thửa 393, tờ bản đồ số 59, nay thuộc một phần các thửa 688, 689 tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện T với giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng, các bên thỏa thuận đến ngày 10/02/2023 sẽ tiến hành ký và công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần diện tích đất nêu trên.

Vào thời điểm ký đặt cọc có vợ chồng ông T, bà T1, ông T2, bà N và ông B là người làm chứng, sau khi đọc nội dung giấy đặt cọc, ông T, bà T1 cùng ông T2 ký tên xác nhận vào giấy đặt cọc, bà N có mặt nhưng không ký vào giấy đặt cọc. Tuy nhiên, bà N có chứng kiến việc ông T2 ký vào giấy đặt cọc. Đồng thời, vào ngày 10/8/2022, vợ chồng ông T, bà T1 đã đặt cọc cho vợ chồng ông T2, bà N số tiền 100.000.000 đồng, các bên thỏa thuận đến ngày công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ thanh toán số tiền còn lại.

Ngày 22/11/2022, các bên cùng ra văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất 5m x 26m nhưng tại Văn phòng công chứng lại thực hiện việc công chứng chuyển nhượng hết toàn bộ phần diện tích đất của ông T2, bà N đang sử dụng. Do có sự nhầm lẫn nên vào ngày 23/11/2022, các bên thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên.

Ngày 10/02/2023, vợ chồng ông T, bà T1 có đến nhà vợ chồng ông T2 để yêu cầu ra Ủy ban nhân dân xã T để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng vợ chồng ông T2 cho rằng phần diện tích đất chuyển nhượng chưa tách thửa được nên không đồng ý ra ủy ban nhân dân xã thực hiện thủ tục chuyển nhượng, kể từ ngày 10/02/2023 cho đến nay, vợ chồng ông T2, bà N vẫn chưa thực hiện xong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, bà T1 như thỏa thuận nên ông T, bà T1 khởi kiện yêu cầu ông T2, bà N hoàn trả số tiền đã nhận đặt cọc 100.000.000 đồng và phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng, tổng cộng là 300.000.000 đồng. Ngoài ra, ông T, bà T1 không có yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Phước T2 trình bày:

Ông thừa nhận vào ngày 10/8/2022, vợ chồng ông và vợ chồng ông T, bà T1 có lập hợp đồng đặt cọc với nội dung vợ chồng ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà T1 phần đất có diện tích 130m² (5m x 26m), trong đó có 50m² đất ở nông thôn, đất chuyển nhượng thuộc một phần thửa 393, tờ bản đồ số 59, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, nay thuộc một phần các thửa 688, 689 tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng. Ông thừa nhận, ông và bà N đã nhận số

tiền 100.000.000 đồng đặt cọc của vợ chồng ông T, bà T1 và đã sử dụng hết vào việc chi tiêu sinh hoạt chung trong thời gian ông và bà N chung sống vợ chồng.

Trong giấy đặt cọc, các bên thỏa thuận đến ngày 10/2/2023 sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng phần đất thỏa thuận chuyển nhượng nhưng trên thực tế sau khi tiến hành việc xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong, vào ngày 22/11/2022 vợ chồng ông cùng vợ chồng ông T, bà T1 đã đến văn phòng C thuộc thị trấn T để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng ký xong, ông đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, bà T1 thực hiện thủ tục tách thửa, đồng thời vợ chồng ông yêu cầu ông T, bà T1 đưa số tiền 100.000.000 đồng còn lại nhưng bà T1, ông T không thực hiện và nói sau khi về đến nhà sẽ đưa, do tin tưởng nên vợ chồng ông cũng đồng ý. Sau 01 ngày kể từ ngày công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng ông T, bà T1 đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lại cho vợ chồng ông và yêu cầu vợ chồng ông phải chuyển quyền sử dụng đất cho con ông thì mới chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà T1 được, vì muốn chuyển nhượng nên ông cũng thực hiện, cụ thể đất đã chuyển tên cho con gái ông là Mai Thị Kim H, sinh năm 1999, nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong, ông có yêu cầu T1, T tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng vợ chồng T và T1 không đồng ý và khởi kiện cho đến nay. Do xác định không có sai trong việc giao kết đặt cọc với ông T, bà T1 nhưng do là chỗ quen biết thân quen nên vợ chồng ông chỉ đồng ý trả lại cho ông T, bà T1 số tiền đã nhận cọc 100.000.000 đồng và không đồng ý yêu cầu phạt cọc 200.000.000 đồng vì việc tách thửa đất chuyển nhượng không thực hiện được là do quy định của Nhà nước chứ không phải do vợ chồng ông không thực hiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - bà Đặng Thị Tuyết N trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của ông Mai Phước T2 liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1. Mọi quyết định của ông T2 liên quan đến vụ án tranh chấp cũng là ý kiến và quyết định của bà. Ngoài ra, bà không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Mai Thị Kim H trình bày:

Đối với tranh chấp giữa ông T, bà T1 và ông T2, bà N thì chị không có ý kiến, chị yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

  • - Các đương sự trong vụ án có mặt tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày.
  • - Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:
  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • Do bà Đặng Thị Tuyết N, chị Mai Thị Kim H là bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, và đã có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 đề nghị Hội đồng giải quyết, xét xử vắng mặt bà Đặng Thị Tuyết N và chị Mai Thị Kim H.
  • + Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 117, Điều 120, Điều 122, Điều 131, Điều 328, Điều 351 BLDS 2015; tinh thần Quyết định số 28 ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T, nay được thay thế bằng Quyết định số 10 ngày 26/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy định về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, có căn cứ giải quyết vụ án theo hướng:

Tuyên bố “Giấy bán đất và đặt cọc” được ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 và ông Mai Phước T2, bà Đặng Thị Tuyết N ký kết vào ngày 10/8/2022 vô hiệu.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 đối với ông Mai Phước T2, ông Đặng Thị Tuyết N về số tiền đặt cọc. Buộc ông Mai Phước T2, bà Đặng Thị Tuyết N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 số tiền 100.000.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 đối với ông Mai Phước T2, bà Đặng Thị Tuyết N về yêu cầu phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng.

- Về chi phí xem xét tại chỗ: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Về án phí sơ thẩm dân sự: các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Do bà Đặng Thị Tuyết N, chị Mai Thị Kim H là bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, và đã có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 đề nghị Hội đồng giải quyết, xét xử vắng mặt bà Đặng Thị Tuyết N và chị Mai Thị Kim H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1 cầu ông T2, bà N hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng, hội đồng xét xử thấy rằng:

Thỏa thuận đặt cọc do ông T, bà T1 và ông T2, bà N xác lập ngày 10/8/2022 được các bên xác lập bằng văn bản với nội dung ông T2, bà N cùng ông T, bà T1 xác lập việc đặt cọc để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích 130m² (5m x 26m), trong đó có 50m² loại đất ở nông thôn, thuộc một phần thửa 393, tờ bản đồ số 59, nay thuộc một phần các thửa 688, 689 tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện T, đất ông T2, bà N đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong giấy đặt cọc mặc dù chỉ có chữ xác nhận của ông T, bà T1 và ông T2, không có việc xác nhận của bà N là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà N thừa nhận có chứng kiến và đồng ý việc ông T2 thoả thuận đặt cọc với ông T, bà T1 nên có căn cứ xác định bà N, ông T2 cùng tiến hành thỏa thuận đặt cọc với ông T, bà T1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành thủ tục xem xét tại chỗ tài sản tranh chấp và đối chiếu với bản đồ địa chính thể hiện phần diện tích đất các bên thỏa thuận đặt cọc để đảm bảo cho việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tứ cận không tiếp giáp với đường giao thông công cộng do Nhà nước công nhận. Tại văn bản xác minh đối với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh T3 thể hiện “Căn cứ Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND ngày 26/04/2023 Quy định về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thể hiện đối với phần diện tích đất có loại đất ở nông thôn chỉ thực hiện được thủ tục tách thửa khi phần đất yêu cầu có tứ cận tiếp giáp với đường giao thông công cộng”

Mặt khác, khi các bên thực hiện việc đặt cọc ngày 10/8/2022 cũng không tiến hành kiểm tra để xác định phần đất thỏa thuận đặt cọc đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thuộc trường hợp được tách thửa theo quy định của Pháp luật tại thời điểm ký kết thỏa thuận đặt cọc.

Từ những nhận định trên, có căn cứ xác định việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa do ông T2, bà N và ông T, bà T1 liên quan phần đất có diện tích 130m² (5m x 26m), trong đó có 50m² loại đất ở nông thôn, thuộc một phần thửa 393, tờ bản đồ số 59, nay thuộc một phần các thửa 688, 689 tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện T, đất ông T2, bà N đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thực hiện được là do lỗi của các bên và do không đảm bảo các quy định về điều kiện tách thửa tại thời điểm thỏa thuận ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do mục đích của thoả thuận đặt cọc không thể thực hiện được, trong quá trình giải quyết vụ án ông T2, bà N cũng đồng ý trả cho ông T, bà T1 số tiền 100.000.000 đồng nên căn cứ các Điều 328, 351 Bộ luật Dân sự, hội đồng xét xử xác định một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1 yêu cầu

ông T2, bà N hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận và buộc ông T2, bà N có nghĩa vụ hoàn trả cho ông T, bà T1 số tiền 100.000.000 đồng.

[2.2] Đối với yêu cầu của ông T, bà T1 yêu cầu ông T2, bà N trả cho ông T, bà T1 khoản tiền phạt cọc 200.000.000 đồng, hội đồng xét xử xét thấy: Ngoài trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà T1, ông T2, bà N không có chứng cứ chứng minh một trong các bên ký thỏa thuận đặt cọc có vi phạm nghĩa vụ dẫn đến không thực hiện được việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 130m² (5m x 26m), trong đó có 50m² loại đất ở nông thôn, thuộc một phần thửa 393, tờ bản đồ số 59, nay thuộc một phần các thửa 688, 689 tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện T, đất ông T2, bà N đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất thoả thuận chuyển nhượng không thể thực hiện do diện tích chuyển nhượng không thể tách thửa vì không bảo đảm được điều kiện tách thửa theo quy định Pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1 đối với yêu cầu ông T2, bà N trả số tiền phạt cọc 200.000.000 đồng.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà T1 đã tạm ứng chi phí 1.000.000 đồng và đã chi phí xong. Do một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1 được chấp nhận nên cần buộc ông T, bà T1 và ông T2, bà N mỗi bên phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng/2 = 500.000 đồng. Ông T2, bà N có trách nhiệm trả cho ông T, bà T1 số tiền 500.000 đồng.

[4] Về án phí: căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • - Ông T2, bà N phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T1 được chấp nhận.
  • - Ông T, bà T1 phải chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

[5] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 328, 351 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 156, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 đối với ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N về “Tranh chấp đặt cọc”. Buộc ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Kim T1 số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị Kim T1 đối với ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N đối với yêu cầu ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N trả số tiền phạt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa nộp trả số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Kim T1 số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Mai Phước T2 và bà Đặng Thị Tuyết N phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Kim T1 phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0004550 ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Kim T1 còn phải nộp 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ này nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - CC THADS huyện Tân Biên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Phú Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 01/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A tranh chấp Mai Phước B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger