|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HSST Ngày: 09-01-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Hà; bà Dương Thị Thắm
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 08/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 27/12/2023 đối với bị cáo:
Mai Văn C - Sinh năm 1991; KHTT: Thôn C H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Việt L (đã chết) và bà Phạm Thị C1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2023 đến ngày 06/10/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người chứng kiến: Chị Trần Thị D - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 03/10/2023, tại khu vực ngã Năm Hạnh thuộc địa phận tiểu khu Y, thị trấn N, Tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N phát hiện Mai Văn C có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma tuý nên tiến hành kiểm tra. Thấy lực lượng Công an, C cổ tình thả 02 gói ma tuý đang cầm ở tay trái xuống đất nhằm che dấu hành vi của bản thân. Túy nhiên, lực lượng Công an đã kịp thời phát hiện và bắt giữ, thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 02 gói giấy thiếc màu bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng dạng cục vụn (do C thả xuống đất); 01 túi nilon (loại túi đựng xylanh), bên trong chứa 02 gói giấy thiếc màu bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng, dạng cục vụn do C cất giấu trong yên xe mô tô. Sau đó, Tổ công tác đã đưa Mai Văn C về trụ sở Công an thị trấn N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của C 01 xe mô tô HONDA Dream, BKS 53Y5-0816, số máy HD1P53FMHY0075632, số khung PA110200011055, màu mận chín và 01 điện thoại di động N màu đen, gắn sim số 0965.785.979, số IMEI: 359603/05/000548/5, só IMEI2: 359603/05/000549/3.
Kết quả điều tra đã chứng minh hành vi phạm tội của Mai Văn C như sau: Để có ma tuý sử dụng, bên cạnh việc tự bỏ tiền mua, C còn đồng ý đi mua ma tuý giúp cho người nghiện ma tuý mà C quen biết, qua đó C chia bớt một phần ma tuý mua được để sử dụng cho bản thân.
Sáng ngày 03/10/2023, khi C đang ở nhà của mình tại thôn C H, xã N, huyện N thì có một người nam giới khoảng 40 tuổi đến nhờ C đi mua ma tuý, C đồng ý. Người này hẹn gặp lại C tại ngã Năm H thuộc địa phận thị trấn N để đưa tiền. Sau khi người nam giới đi về, C đến nhà anh Mã Văn T (sinh năm 1984) ở cùng thôn hỏi mượn của T 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DreamII gắn biển kiểm soát 53 Y5-0816 để làm phương tiện đi lại và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (loại bàn phím cứng) gắn sim số 0965.785.979 để liên lạc. Khoảng 10 giờ cùng ngày, C đi xe mô tô đến ngã Năm H gặp người nam giới nhờ mua ma tuý như đã hẹn, người này đưa cho C số tiền 700.000₫.
Sau khi nhận tiền, C điều khiển xe mô tô đi đến huyện K, tỉnh Ninh Bình để mua ma tuý. Trên đường đi, C đã sử dụng 100.000đ để mua xăng xe và mua nước uống. Khi đến khu vực cầu T thuộc địa phận thị trấn P, huyện K, C gặp một người nam giới khoảng hơn 50 tuổi làm nghề chạy xe ôm. Sau khi hỏi thăm, C đã đưa 600.000đ nhờ người chạy xe ôm mua ma tuý. Người này nhận tiền rồi đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho C 01 túi nilon (loại đựng xylanh) bên trong có 03 gói Heroine (bỏ trong gói giấy thiếc, màu bạc). Mua được ma tuý, C điều khiển xe mô tô quay huyện N. Trên đường về, C đi vào nhà vệ sinh của cây xăng thuộc địa phận xã N, huyện N lấy 03 gói ma tuý mua được chia thành 04 gói. Sau đó, C bỏ 02 gói vào túi nilon để dưới vỏ yên xe phía trước (bị rách), mục đích mang về cho bản thân sử dụng. Đối với 02 gói ma túy còn lại, C cầm trên tay trái mục đích để về đến ngã Năm H thì đưa cho người nam giới đã gửi tiền mua. Khi về đến ngã Năm H, C đang đứng chờ người nam giới đã gửi tiền mua ma tuý để đưa ma tuý cho người này thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 3564KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh T, kết luận:
- - Chất màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 (02 gói ma tuý C thả xuống đất) gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,133g (không phẩy một ba ba gam) loại: Heroine.
- - Chất màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 (02 gói ma tuý C để trong yên xe) gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,094g (không phẩy không chín bốn gam) loại: Heroine.
Như vậy, Mai Văn C đã cất dấu, tàng trữ tổng khối lượng ma tuý là 0,227g (không phẩy hai hai bảy gam) loại: Heroine.
2
Quá trình điều tra, Mai Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Đối với người nam giới đã gửi tiền nhờ C mua ma tuý, C trình bày mới chỉ quen biết một thời gian ngắn, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm nhận dạng. Người này sử dụng số điện thoại 0799.067.xxx để liên lạc với C ngày 03/10/2023. Kết quả tra cứu người đứng tên đăng ký số điện thoại trên là cháu Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 2007, có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N. Túy nhiên, cháu Á không sử dụng số điện thoại này, trước đó cháu Á đã chuyển vào miền N sinh sống, không xác định được địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với người nam giới đã mua ma tuý giúp cho C tại khu vực cầu T thuộc địa phận thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Do mới gặp nhau một lần nên C không nhớ đặc điểm nhận dạng và cũng không biết họ tên, địa chỉ. Do vậy, không có căn cứ để xác minh làm rõ.
* Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe mô tô HONDA DreamII, BKS 53Y5-0816, số máy HD1P53FMHY0075632, số khung PA110200011055, màu mận chín và 01 điện thoại di động N màu đen, gắn sim số 0965.785.979, số IMEI1: 359603/05/000548/5, số IMEI2: 359603/05/000549/3. Kết quả điều tra xác định các tài sản này thuộc sở hữu hợp pháp của ông Mã Văn T1 (sinh năm 1957) là bố của anh Mã Văn T. Việc C mượn xe và điện thoại sử dụng đi mua ma tuý, ông T1 hoàn toàn không biết. Ngày 21/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô và điện thoại di động cho ông T1 là đúng quy định pháp luật.
- Toàn bộ các vật chứng còn lại được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Văn T3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong và mẫu vật còn lại sau giám định.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 01/CT-VKSNS ngày 07/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Mai Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Mai Văn C từ 15 tháng đến 18 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/10/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,187g (không phẩy hai hai bảy gam) loại Heroine là các mẫu vật hoàn lại sau giám định.
3
Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000₫ mà bị cáo đã mua xăng và uống nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Do là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý, sáng ngày 03/10/2023, Mai Văn C đồng ý đi mua ma tuý giúp cho một người nam giới (không xác định nhân thân, lai lịch). Sau khi nhận 700.000đ của người này, C đến thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình nhờ một người làm nghề xe ôm (không xác định nhân thân, lai lịch) mua giúp 0,227 gam ma túy loại Heroine với giá 600.000₫ đem về N. Khi về đến khu vực ngã Năm H thuộc địa phận tiểu khu Y, thị trấn N thì C bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N bắt quả tang.
Số tiền 100.000đ còn lại, C đã sử dụng mua xăng xe và nước uống. Kết quả điều tra chưa xác định được người gửi tiền nhờ C mua ma tuý nên không có căn cứ kết luận đồng phạm trong vụ án.
Do đó Mai Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Mai Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ về hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đây còn là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất lẫn tinh thần của con người và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
4
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
- - Về nhân thân: Bản thân bị cáo Mai Văn C là người sử dụng ma túy.
- - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
[5] Về hình phạt:
Từ những nhận xét trên HĐXX nghĩ cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, bị cáo là người sử dụng ma túy, có nhân thân xấu nên cần lên hình phạt tù giam cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Túy nhiên, cần cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.
Bị cáo nghề nghiệp tự do, mức thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Về xử lý vật chứng: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,187g (không phẩy một tám bảy gam) loại Heroine là các mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy;
- - Về biện pháp tư pháp: Số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), bị cáo đã sử dụng mua xăng xe và nước uống, cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[7] Các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với người nam giới đã gửi tiền nhờ C mua ma tuý, C trình bày mới chỉ quen biết một thời gian ngắn, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm nhận dạng. Người này sử dụng số điện thoại 0799.067.xxx để liên lạc với C ngày 03/10/2023. Kết quả tra cứu người đứng tên đăng ký số điện thoại trên là cháu Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 2007, có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N. Túy nhiên, cháu Á không sử dụng số điện thoại này, trước đó cháu Á đã chuyển vào miền N sinh sống, không xác định được địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với người nam giới đã mua ma tuý giúp cho C tại khu vực cầu T thuộc địa phận thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Do mới gặp nhau một lần nên C không nhớ đặc điểm nhận dạng và cũng không biết họ tên, địa chỉ. Do vậy, không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với 01 xe mô tô HONDA DreamII, BKS 53Y5-0816, số máy HD1P53FMHY0075632, số khung PA110200011055, màu mận chín và 01 điện thoại di động N màu đen, gắn sim số 0965.785.979, số IMEI1: 359603/05/000548/5, số IMEI2: 359603/05/000549/3. Kết quả điều tra xác định các tài sản này thuộc sở hữu hợp pháp của ông Mã Văn T1 (sinh năm 1957) là bố của anh Mã Văn T. Việc C mượn xe và điện thoại sử dụng đi mua ma tuý, ông T1 hoàn toàn không biết. Ngày 21/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô và điện thoại di động cho ông T1 là đúng quy định pháp luật.
5
[7] Về án phí: Bị cáo Mai Văn C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Mai Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 03/10/2023.
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,187g (không phẩy một tám bảy gam) loại Heroine (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).
- - Truy thu của bị cáo C số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mai Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày túyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
6
7
Bản án số 01/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn C xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm C khoản 1 Điều 249 BLHS
