|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày: 08-5-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Bà Bùi Thị Thanh Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Xuân Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST-KDTM ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2024/QĐST-KDTM ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (gọi tắt Ngân hàng S1).
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Tp Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Đoan T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng S1 chi nhánh N. Bà Đào Thị Đoan T uỷ quyền lại cho bà Võ Thị Phan T1, sinh năm 1979 – Trường phòng Kiểm soát rủi ro chi nhánh tỉnh N tham gia tố tụng (có mặt).
Bị đơn: Công ty Cổ phần S2 (gọi tắt Công ty S2).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình Q – Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc.
Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Kỳ M, sinh năm: 1979, địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/10/2023, quá trình tố tụng, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Phan T1 trình bày: Theo hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023, Ngân hàng S1 có cho Công ty S2 vay số tiền 3.350.000.000₫ (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay bổ sung vốn lưu động, lãi suất vay 9,7% cố định 06 tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Hình thức trả nợ là trả gốc vào ngày 18/11/2023, lãi trả ngày 16 hàng tháng, thời điểm trả hết nợ là ngày 18/11/2023. Ngân hàng S1 đã giải ngân toàn bộ số tiền trên và Công ty S2 đã nhận đủ số tiền giải ngân là 3.350.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số LD231300275 ngày 18/5/2023.
Quá trình vay vốn tại Ngân hàng S1, Công ty S2 có bảo đảm bằng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1052 tờ bản đồ số 34, diện tích 102m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK468026 do Ủy Ban nhân dân huyện Q cấp ngày 11/06/2012 và cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Kỳ M ngày 10/8/2022. Số vào sổ cấp GCN: CH00309/QĐ số 839. Chi tiết tại hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 tại Văn phòng C1, Tỉnh Bắc Ninh giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh N và bên thế chấp ông Lê Kỷ M. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn Phòng Đ – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thị xã Q ngày 16/5/2023. Hiện nay khoản vay của Công ty S2 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng, quá hạn tại Ngân hàng S1 và tổ chức tín dụng khác. Mặc dù Ngân hàng S1 đã thường xuyên nhắc nhở nhưng Công ty S2 không xử lý.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng S1 yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Buộc Công ty cổ phần S2 thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 3.614.484.218 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, sáu trăm mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng) trong đó, bao gồm: nợ gốc: 3.350.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 29.378.731 đồng; Lãi quá hạn: 233.696.918 đồng; Lãi chậm trả: 1.408.569 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 09/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng.
- Yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 được ký kết giữa Ngân hàng S1 với ông Lê Kỳ M để đảm bảo cho việc thi hành án.
Tại biên bản lấy lời khai (BL 90) đại diện Công ty Cổ phần S2 (gọi tắt Công ty S2) ông Nguyễn Đình Q trình bày: Vào ngày 16/5/2023, ông là đại diện theo pháp luật của Công ty S2 và Ngân hàng TMCP S (gọi tắt Ngân hàng S1) có thoả thuận vay vốn bổ sung vốn kinh doanh. Tại hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023, Ngân hàng S1 có cho Công ty S2 vay số tiền 3.350.000.000₫ (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay là bổ sung vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Đến ngày 18/5/2023, Ngân hàng S1 đã giải ngân cho Công ty số tiền trên theo giấy nhận nợ số LD2313800275. Ông là đại diện Công ty S2 đã nhận đủ số tiền 3.350.000.0000 đồng mà Ngân hàng đã giải ngân. Thời hạn vay là 06 tháng, lãi suất cố định là 9,7%/ trong 06 tháng, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả nợ gốc là ngày 18/11/2023, phương thức trả lãi hàng tháng, trả gốc cuối kỳ. Quá trình vay vốn tại Ngân hàng S1, có bảo đảm tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1052 tờ bản đồ số 34, diện tích 102m², địa chỉ thửa đất tại phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số BK 468026 ngày 11/6/2012 của UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 của Văn phòng C1, tỉnh Bắc Ninh, bên thế chấp là ông Lê Kỳ M. Toàn bộ tài sản thế chấp này là tài sản của anh Lê Kỷ M, anh M là người bảo đảm cho công ty ông các khoản vay này. Quá trình vay vốn ông có thanh toán lãi có ngân hàng. Đến khoàng tháng 9/2023 cho đến nay, do kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên ông không có khoản nào để thanh toán lãi cho ngân hàng.
Theo đơn khởi kiện ngân hàng S1 yêu cầu Công ty S2 trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lại tính đến ngày 26/9/2023 là 3.359.793.014 đồng (trong đó, gốc là 3.350.000.000 đồng, lãi trong hạn lạ 9.793.014 đồng, đồng thời yêu cầu C ty Kinh bắc phải trả lãi phát sinh từ ngày 27/9/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng thì ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng S1, không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 324/TC23 ngày 16/5/2023 để đảm bảo cho việc thi hành án thì ông không có ý kiến gì, vì tài sản thế chấp và người bản đảm khoản vay là anh Lê Kỷ M. Tại biên bản làm việc ngày 05/4/2024 (BL 93), ông Nguyễn Đình Q thống nhất và đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1.
Tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Kỷ M trình bày: Ông có thế chấp quyền sử dụng đất để bảo lãnh cho Công ty S2 vay với số tiền gốc lúc giải ngân là 3.350.000.000₫ (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng) tại hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023 được ký kết giữa Công ty S2 với Ngân hàng TMCP S. Ông bảo lãnh bằng hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 tại Văn phòng C1 tại TP B, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1052, tờ bản đồ số 34 theo giấy chứng nhận QSD đất số phát hành BK 468023, số vào sổ cấp GCN CH00309 ngày 11/6/2012 do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp mang tên Nguyễn Thọ H đã cập nhật chuyển nhượng cho ông, địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã P, huyện Q (nay là thị xã Q), tỉnh Bắc Ninh. Đây là tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung của vợ chồng. Trên đất có 01 căn nhà 01 trệt, 02 lầu gắn liền với quyền sử dụng đất nêu trên.
Nay do Công ty S2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu Công ty S2 phải thanh toán số tiền vay còn nợ tạm tính tính đến ngày 22/3/2024 tổng cộng cả gốc và lãi là 3.551.341.602 đồng, đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 234/TC23 ngày 16/5/2023 để đảm bảo cho việc thi hành án. Ông có ý kiến như sau, đối với số tiền nợ tại Ngân hàng S1 ông yêu cầu Toà án buộc Công ty S2 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S1, ông không có trách nhiệm liên đới trong số tiền nợ trên nên không có nghĩa vụ phải trả cùng với công ty S2. Tuy nhiên, đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 do ông tự nguyện ký bảo lãnh để đảm bảo khoản vay của Công ty S2 nên trong vụ việc này, ông đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp trên để bảo đảm thi hành án cho Ngân hàng S1.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn Ngân hàng S1. Về chi phí tố tụng và án phí giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu Công ty S2 phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi được ký kết giữa Ngân hàng S1 với Công ty S2 tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023, đồng thời yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự:
[2.1]. Bị đơn Công ty S2 do ông Nguyễn Đình Quảng đại d theo pháp luật vắng mặt đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ nhưng ông Q không đến tòa. Phiên tòa được mở lần thứ hai những vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ theo khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q.
[2.2]. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Kỷ M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, tuy nhiên ông M vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.
[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 16/5/2023 giữa Ngân hàng S1 với Công ty S2 có ký hợp đồng tín dụng số [...], theo hợp đồng Ngân hàng S1 có cho Công ty S2 vay số tiền là 3.350.000.000₫ (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay là vay bổ sung vốn lưu động, lãi suất vay 9,7% cố định 06 tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Hình thức trả nợ là trả gốc vào ngày 18/11/2023, lãi trả ngày 16 hàng tháng, thời điểm trả hết nợ là ngày 18/11/2023. Ngân hàng S1 đã giải ngân toàn bộ số tiền trên và Công ty S2 đã nhận đủ số tiền giải ngân là 3.350.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số LD231300275 ngày 18/5/2023. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[3.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1 đối với Công ty S2: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng và Công ty S2 xác nhận hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tình tiết có thật, các bên không cần phải chứng minh.
Tại phiên toà, đại diện Ngân hàng S1 yêu cầu Công ty S2 phải thanh toán các khoản nợ tính đến ngày 08/5/2024, tổng cộng là: 3.614.484.218₫ (Bằng chữ: Ba tỷ, sáu trăm mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng) trong đó, bao gồm: nợ nốc: 3.350.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 29.378.731 đồng; Lãi quá hạn: 233.696.918 đồng; Lãi chậm trả: 1.408.569 đồng. Tại Biên bản làm việc ngày 05/4/2024 (BL 93) ông Nguyễn Đình Q là đại diện theo pháp luật của Công ty S2 thống nhất và đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1. Xét thấy, Ngân hàng S1 và Công ty S2 xác nhận có vay, còn nợ và đồng ý trả toàn bộ số tiền nợ trên cho Ngân hàng S1, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
[3.2] Đối với yêu cầu của S1 về việc yêu cầu Công ty S2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc kể từ sau ngày 08/5/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Xét thấy, tại Án lệ số 08/2016/AL của Toà án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng, nội dung tại Án lệ quy định “..., khách hàng vay phãi tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay...”. Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng S1 về việc buộc Công Ty S2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền dư nợ gốc kể từ sau ngày 08/5/2024 (sau ngày xét xử) là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
[3.3] Xét yêu cầu của Ngân hàng S1 về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 324/TC23 ngày 16/5/2023 được ký kết giữa Ngân hàng S1 và ông Lê Kỷ M để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, Quá trình vay vốn tại Ngân hàng S1, ông Lê Kỷ M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã ký thế chấp cho Công ty S2 để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số [...] ngày 16/5/2023, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 1052 tờ bản đồ số 34 phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo giấy chứng nhận QSD đất số phát hành BK 468026 ngày 11/6/2022 mang tên Nguyễn Thọ H, cập nhật tên Lê Kỷ M. Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên được ký kết đúng theo trình tự thủ tục, đúng đối tượng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nội dung thoả thuận của các bên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của Ngân hàng S3. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về quan điểm giải quyết vụ án.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của Ngân hàng S1 được chấp nhận nên Công ty S2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000 đồng. Số tiền này do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước nên buộc Công ty S2 phải hoàn trả cho Ngân hàng S1.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Công ty S2 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 104.289.684 đồng (một trăm lẻ bốn triệu, hai trăm tám mươi nhín nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng), cách tính là: 72.000.000 đồng + 0,2% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng = 72.000.000 đồng + 0,2% (1.614.484.218 đồng). Ngân hàng S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- - Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S4 (S1) đối với bị đơn Công ty Cổ phần S2.
- Buộc Công ty Cổ phần S2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) số tiền dư nợ gốc tính đến ngày 08/5/2024 là 3.350.000.000₫ (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng).
- Buộc Công ty Cổ phần S2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) số tiền lãi trên dư nợ gốc tính đến ngày 08/5/2024 là 264.484.218đ (hai trăm sáu mươi bốn triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm mười tám đồng), trong đó, L trong hạn: 29.378.731 đồng; Lãi quá hạn: 233.696.918 đồng; Lãi chậm trả: 1.408.569 đồng.
- Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản số 324/TC23 ngày 16/5/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S (S1) với ông Lê Kỷ M để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc Công ty Cổ phần S2 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 3.000.000₫ (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Công ty Cổ phần S2 phải chịu 104.289.684 đồng (một trăm lẻ bốn triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 49.597.930đ (bốn mươi chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, chín trăm ba mươi đồng) số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002101 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Kể từ ngày 09/5/2024 Công ty Cổ phần S2 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản vay này.
(Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp kinh doanh thương mại
