Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/01/2024

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;

Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST– DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1959; địa chỉ: Số F tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: Số D H, tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà L vắng mặt lần thứ hai, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H trình bày: Ông và bà Đinh Thị L xây dựng gia đình với nhau vào năm 2013, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L vào ngày 16/4/2013. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Do mâu thuẫn đã trầm trọng nên năm 2022 ông đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L nhưng Tòa án xử không chấp nhận đơn ly hôn của ông. Trong thời gian qua, ông và bà L không thể cải thiện được tình cảm vợ chồng và sống ly thân từ đó đến nay. Nay ông xác định, mâu thuẫn giữa ông và bà L đã trầm trọng, kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L để ông ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông xác định, ông và bà L không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Đinh Thị L đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án làm việc nhưng không đến. Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với bà L thì bà L không chịu viết bản tự khai và cũng không đồng ý cho Tòa án lấy lời khai; đồng thời, từ chối nhận các văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án đã niêm yết tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa.

Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H, xử cho ông H và bà L được ly hôn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Ông H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên đề nghị miễn án phí cho ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Đinh Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Xuân H và bà Đinh Thị L xây dựng gia đình với nhau vào năm 2013, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L vào ngày 16/4/2013 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Xét thấy, trong quá trình chung sống giữa ông H với bà L hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Do mâu thuẫn nên năm 2022, ông H đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà L. Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 31/2022/HNGĐ-ST ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà và Bản án phúc thẩm số 15/2022/HNGĐ-PT ngày 08/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử không chấp nhận đơn ly hôn của ông H. Từ thời gian đó đến nay ông H và bà L vẫn sống ly thân, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đến ngày 02/10/2023, ông H nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà L và đã được Tòa án thụ lý giải quyết.

Nhận thấy, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này thì Tòa án tiến hành làm việc với bà L về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông H nhưng bà xác định trước đây bà có ký đơn thuận tình ly hôn với ông H, còn việc ông H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thế nào thì bà không liên quan và bà không đồng ý nhận văn bản tố tụng cũng như đến Tòa án làm việc. Mặt khác, qua xác minh tại chính quyền địa phương thì thực tế ông H và bà L đã sống ly thân đến nay khoảng hơn 05 năm; việc ông H yêu cầu ly hôn thì bà L không có tranh chấp gì nhưng do giữa ông H với bà L có những bất đồng nên bà L không đồng ý đến Tòa án làm việc theo đơn yêu cầu ly hôn của ông H. Như vậy, trên thực tế giữa ông H với bà L đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu, hai bên không thể cải thiện tình cảm vợ chồng được nên đã tự sống ly thân và tự ôn định cuộc sống riêng. Bản thân bà L không đến Tòa án làm việc, tham gia hòa giải trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng cho thấy bà L không có thiện chí trong việc hòa giải, để vợ chồng đoàn tụ mà có ý bỏ mặc cho mâu thuẫn kéo dài. Do đó, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện tại cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự. Vì vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của ông H, xử cho ông H và bà L được ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Ông H xác định, quá trình chung sống giữa ông và bà L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông H xác định, quá trình chung sống giữa ông và bà L không có tài sản chung và cũng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[4] Về án phí: Do ông H đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên miễn tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm cho ông H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của ông Nguyễn Xuân H, xử cho ông Nguyễn Xuân H và bà Đinh Thị L được ly hôn.
  2. Về án phí: Miễn tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm về việc ly hôn cho ông Nguyễn Xuân H.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà;
  • - Lưu hồ sơ, BP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hằng

Ngô Thị Luân

Trần Minh Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Hùng - Lý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger