|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 08-01-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng và ông Nguyễn Văn Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 242/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2023/QĐXXST-HS ngày 22/12/2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Vi Văn S, sinh năm 1987; Giới tính: Nam.
- Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12.
- Con ông: Vi Văn Đ.
- Con bà: Hoàng Thị N.
- Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ hai.
- Vợ: Lý Thị M, sinh năm 1998 (đã ly hôn).
- Bị can có 01 con, sinh năm 2017.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Tại bản án số 33/2021/HS-PT ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tài sản trộm cắp có giá trị 8.493.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2022, chấp hành xong phần dân sự ngày 10/11/2021.
Nhân thân: Ngày 22/12/2023, Vi Văn S bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Bị can đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
- Chị Phạm Thị P, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt tại phiên toà)
- Anh Hoàng Đức C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Văn S- sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái hiện làm công nhân tại Công ty TNHH F thuộc Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang từ tháng 8/2023. Do trước đây, S có phỏng vấn và tập huấn tại Công ty TNHH N1 thuộc Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Công ty TNHH N1 và Công ty TNHH F đều thuộc Tập đoàn K) cho nên Sống biết thẻ công nhân của mình ở Công ty TNHH F có thể sử dụng để đi qua cổng Công ty TNHH N1 được nên S đã nảy sinh ý định vào Công ty TNHH N1 với mục đích đến các khu vực tủ để đồ cá nhân xem có ai để tài sản sơ hở trộm cắp. Khoảng 19 giờ ngày 14/10/2023, S đi nhờ xe mô tô của một người làm cùng công ty đến Công ty TNHH N1 và dùng thẻ công nhân của S để đi qua cổng vào trong Công ty. Sau đó, S đi đến khu vực tủ để đồ cá nhân ở xưởng A08 phát hiện thấy chị Phạm Thị P - sinh năm 1997, trú tại Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang cất đồ vào tủ đồ số 40-19. Sau khi chị P đi vào xưởng làm việc, S đi đến khu vực tủ đồ của chị P thấy ổ khóa tủ đồ số 40-19 chỉ được móc vào tai khóa mà không được khóa. Sau đó, S mở tủ đồ của chị P ra kiểm tra phát hiện 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh, bên ngoài có ốp lưng trắng đã ố vàng, trong ốp lưng có số tiền 75.000 đồng (gồm có 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng). Sống dùng tay phải lấy chiếc điện thoại cùng ốp lưng và số tiền 75.000 đồng vào túi quần và tiếp tục đi sang khu vực tủ để đồ cá nhân của xưởng A07 ở bên cạnh xưởng A08. Tại đây, S quan sát thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương của anh Hoàng Đức C- sinh năm 1989, trú tại xóm N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng đang cắm sạc pin tại khu vực bảng điện. Sống đi đến chỗ chiếc điện thoại dùng tay trái cầm điện thoại, tay phải rút dây sạc pin điện thoại ra và đút vào túi quần đang mặc của S. Sau khi trộm cắp được 02 chiếc điện thoại trên, S đi bộ ra cổng công ty quẹt thẻ và đi về phòng trọ tại tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi về phòng trọ, S có tháo 04 chiếc sim được lắp trong 02 chiếc điện thoại trên rồi cất vào ví; số tiền 75.000 đồng Sống đã tiêu sài hết.
Khoảng 21 giờ cùng ngày 14/10/2023, anh C ra kiểm tra phát hiện bị mất điện thoại đang sạc tại khu vực bảng điện. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày 14/10/2023, chị P ra tủ đồ kiểm tra phát hiện bị mất điện thoại. Ngày 16/10/2023, anh C và chị P đã đến Đồn Công an Q trình báo sự việc. Ngày 16/10/2023, S đến Đồn Công an Q xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp của anh C, chị P, 03 chiếc sim điện thoại mà S đã tháo (01 chiếc sim Sống không biết đã làm rơi khi nào và ở đâu) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh, số IMEI 1: 869874044312914, có 02 thẻ sim số: 0582413904 và 0866122499 đã qua sử dụng và 01 (một) căn cước công dân mang tên Vi Văn S- sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Ngày 16/10/2023, Đồn Công an Q chuyển hồ sơ, vật chứng và đối tượng Vi Văn S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại khu vực tủ để đồ cá nhân ở xưởng A07 và xưởng A08 của Công ty TNHH N1 và cho bị can xác định vị trí trộm cắp tài sản. Kết quả bị can xác định đúng vị trí bị can đã trộm cắp 02 điện thoại của chị P và anh C ngày 14/10/2023.
Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá tài sản đối với 02 chiếc điện thoại di động của chị P và anh C. Tại kết luận định giá tài sản số 193/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương, có giá trị 1.800.000 đồng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh, có giá trị 1.650.000 đồng; 01 ốp điện thoại di động, loại Vivo I20, màu trắng, có giá trị 15.000 đồng; 04 phôi sim điện thoại trị giá 120.000 đồng.
Ngày 18/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho chị Phạm Thị P và anh Hoàng Đức C kiểm tra điện thoại thu giữ được là vật chứng vụ án. Kết quả chị P xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh; 01 chiếc ốp điện thoại Vivo I20, màu trắng và 02 chiếc sim điện thoại V có số thuê bao 0394.764.227, 0978.771.684 là của chị P; anh C xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương và 01 chiếc sim điện thoại V có số thuê bao 0976.225.117 là của anh C.
Ngày 17/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ hình ảnh video do camera an ninh ghi lại hình ảnh Vi Văn S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xưởng A07 và A08 của Công ty TNHH N1 ngày 14/10/2023. Cơ quan điều tra tiến hành cho Vi Văn S xem lại hình ảnh video và xác định người trong video là S đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại của chị P và anh C ngày 14/10/2023.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh; 01 chiếc ốp điện thoại Vivo I20 và 02 chiếc sim điện thoại V có số thuê bao 0394.764.227, 0978.771.684 là tài sản của chị P; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số điện thoại 0976.225.xxx là tài sản của anh C nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị P, anh C. Đối với số tiền 75.000 đồng chị P để trong ốp điện thoại S đã tiêu sài hết và chiếc sim điện thoại số 0839.225.xxx của anh C, không nhớ đã làm rơi ở vị trí nào đến nay không thu hồi được chị P, anh C đều không yêu cầu bồi thường dân sự. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh và 01 Căn cước công dân mang tên Vi Văn S là tài sản, giấy tờ của bị can S không dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Vi Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vi Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Vi Văn S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 16/10/2023.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh và 01 Căn cước công dân mang tên Vi Văn S.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên qua trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 14/10/2023, tại tủ đồ cá nhân số D, xưởng A08 và khu vực bảng điện trong khu vực tủ để đồ cá nhân xưởng A07 của Công ty TNHH N1 thuộc Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Vi Văn S đã có hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 3.660.000 đồng, bao gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh, có giá trị 1.650.000 đồng; 01 chiếc ốp điện thoại Vivo I20, màu trắng có giá trị 15.000 đồng, 02 chiếc phôi sim điện thoại có giá 60.000 đồng, số tiền 75.000 đồng của chị Phạm Thị P- sinh năm 1997, trú tại bản Tràng Bắn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương, có giá trị là 1.800.000 đồng; 02 chiếc phôi sim điện thoại có giá 60.000 đồng của anh Hoàng Đức C- sinh năm 1989, trú tại xóm N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu sài các nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây hoang mang lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tôi đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I20, màu xanh; 01 chiếc ốp điện thoại Vivo I20 và 02 chiếc sim điện thoại V có số thuê bao 0394.764.227, 0978.771.684 là tài sản của chị P; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, màu xanh dương và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số điện thoại 0976.225.xxx là tài sản của anh C nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị P, anh C.
Đối với số tiền 75.000 đồng chị P để trong ốp điện thoại S đã tiêu sài hết và chiếc sim điện thoại số 0839.225.xxx của anh C, không nhớ đã làm rơi ở vị trí nào đến nay không thu hồi được chị P, anh C đều không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh và 01 Căn cước công dân mang tên Vi Văn S là tài sản, giấy tờ của bị can S không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.
[10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Vi Văn S 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 16/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Vi Văn S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh và 01 Căn cước công dân mang tên Vi Văn S.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn S.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
