|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST
Ngày 08-01-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Bình;
- Ông Đoàn Văn Nam.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị Y, sinh năm 1956; có vợ là Trần Thị M (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 9 năm 2023 đến ngày 29 tháng 9 năm 2023 chuyển tạm giam; có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình P, ông Trịnh Văn C1; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma tuý nên khoảng 18 giờ ngày 21-9-2023, Nguyễn Văn T đến nhà anh Nguyễn Đình P mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1 024.34 để đi mua ma tuý. Về sự đường nhưng không nói cho anh P biết mục đích mượn xe để đi mua ma tuý. Mượn được xe, T một mình điều khiển sang khu vực đường đê quốc gia thuộc địa phận thôn X, xã Q, huyện T. Đến nơi, T gặp người đàn ông không quen biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 500.000 đồng ma tuý, loại Methamphetamine thì được người này bán cho một đoạn ống nhựa bên trong chứa ma tuý. Mua được ma tuý, T điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến chân cầu M thuộc địa phận xã Q thì bị tổ công tác Công an huyện T tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng và 01 xe mô tô BKS 15H1 024.34.
Kết luận giám định số 751/KL-KTHS (MT) ngày 25-9-2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,50 gam, loại Methamphetamine”.
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở cai nghiện ma tuý số 02 Hải Phòng, kết luận: “Nguyễn Văn T dương tính với ma tuý, loại MET (Methamphetamine)”.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện T và Kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 30-10-2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, BKS 15H1 024.34, chủ xe: Trịnh Văn C1, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T; có số khung, số máy là nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hay sửa chữa các ký tự”.
Anh Nguyễn Đình P trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1 024.34 là tài sản hợp pháp của anh mua lại của ông Trịnh Văn C1 với giá 10.000.000 đồng vào tháng 09-2020 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Chiều ngày 21-9-2023, T mượn xe mô tô trên của anh nói là đi có việc, anh không biết T sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý.
Ông Trịnh Văn C1 trình bày: Năm 2019, ông mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15H1 024.34 làm phương tiện đi lại; đến tháng 09-2020 do không sử dụng nên ông đã bán lại cho anh Nguyễn Đình P với giá 10.000.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ 01 xe mô tô BKS 15H1 024.34 cùng đăng ký xe mang tên Trịnh Văn C1. Qua xác minh xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 15-12-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh P. Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bao trong có 0,29 gam tinh thể cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20-12-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm e khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và trình bày: Bị cáo sử dụng ma tuý loại Methamphetamine từ tháng 02-2023. Toàn bộ ma tuý Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo cất giấu để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác; xe mô tô BKS 15H1 024.34, bị cáo mượn của anh Nguyễn Đình P, không nói cho anh P biết mục đích mượn xe để đi mua ma tuý; số tiền dùng để mua ma tuý là do bị cáo lao động mà có. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi bị cáo đã thực hiện; khối lượng, loại ma tuý đúng như Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức việc bị điều tra, truy tố, xét xử là đúng oai sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, trả cho bị cáo.
Người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20-12-2023 truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21-9-2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong số 751MT/C09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng hợp pháp.
Về những người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, người làm chứng vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
- Về tội danh và hình phạt:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 21-9-2023, tại chân cầu M, xã Q, huyện T, Công an huyện T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang T có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý có khối lượng theo Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là 0,50 gam Methamphetamine.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô BKS 15H1 024.34: Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu, anh Nguyễn Đình P là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 hộp giấy niêm phong số 751MT/C09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định: Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho T; nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21 tháng 9 năm 2023.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Nguyễn Văn T.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) hộp giấy niêm phong số 751MT/C09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Đoàn Văn Nam Nguyễn Hữu Bình |
Nguyễn Thanh Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma tuý
