trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 01/2024/DSST

Ngày: 08/01/2024

V/v Tranh chấp chia tài sản chung

Và chia di sản thừa kế

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phong
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lâm
  • Bà Nguyễn Thị Thắm
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Đình Giáp - Thư ký Toà án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2024/TLST - DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXX - ST ngày 18 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1936.

Địa chỉ thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt tại phiên tòa)

Người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị N là bà Phí Thị N1, sinh năm 1957

Địa chỉ: Khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Bà Phí Thị T, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn K, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

( vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1

1.Bà Phí Thị L, sinh năm 1954;

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa)

2. Bà Phí Thị N1, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa)

3. Ông Phí Đình Q, sinh năm 1960;

Địa chỉ số14/174 V, Đ, phường N, thành phố Hải Phòng. (có mặt tại phiên tòa)

4. Ông Phí Đình T1, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa)

5. Bà Phí Thị T2, sinh năm 1966;

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa)

6. Ông Phí Đình M, sinh năm 1982

Địa chỉ: Số A K, Đ, phường H, thành phố Hải Phòng. (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị N do bà Phí Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Cụ Nguyễn Thị N kết hôn với cụ Phí Đình M1 vào năm 1953. Quá trình chung sống cụ N và cụ M1 sinh được 07 người con là bà Phí Thị L sinh năm 1954, bà Phí Thị N1 sinh năm 1957, ông Phí Đình Q sinh năm 1960, ông Phí Đình T1 sinh năm 1963, bà Phí Thị Thủy s năm 1966, bà Phí Thị T sinh năm 1968 và ông Phí Đình M sinh năm 1982. Ngoài ra, hai cụ không có con riêng và không nhận ai làm con nuôi. Ngày 11/3/2006 cụ M1 chết, trước khi chết không để lại di chúc.

Trong thời gian chung sống cụ N và cụ M1 có tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² (gọi tắt là thửa đất số 176) nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Còn các tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà trần 02 tầng, có diện tích khoảng 120m², bếp, phòng ăn, sân gạch, cổng, tường bao do ông Phí Đình Q xây dựng năm 2016. Các người con khác không đóng góp công sức gì vào khối tài sản chung của cụ N và cụ M1 cũng như tài sản của ông Q. Năm 2010, thửa đất trên được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Phí Đình M1 (cấp sau khi cụ M1 chết)

Ngày 23/9/2022, cụ Nguyễn Thị N làm đơn đề nghị UBND huyện L cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 05/01/2023, UBND huyện L đã ban hành Quyết định số 05/QĐ - UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 21/12/2010 cho ông Phí Đình M1 đối với thửa đất 176. Quá trình hoàn thiện các thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Thị N thì bà Phí Thị T không đồng ý ký vào đơn từ chối nhận di sản thừa kế.

Do vậy cụ Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó chia thừa kế phần tài sản mà cụ M1 được hưởng là ½ thửa đất trên theo quy định của pháp luật cho những người được hưởng thừa kế. Khi chia cụ N mong muốn nhận phần tài sản được chia bằng hiện vật để làm nơi thờ cúng tổ tiên

* Phía bị đơn là bà Phí Thị T, trình bày: Cụ Nguyễn Thị N kết hôn và cụ Phí Đình M1 sinh được 07 người con như bà Phí Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị N trình bày là đúng. Ngoài ra, hai cụ không có con riêng và không nhận ai làm con nuôi. Ngày 11/3/2006 cụ M1 chết, trước khi chết không để lại di chúc. Tài sản chung của cụ N và cụ M1 là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Còn các tài sản trên đất là do ông Phí Đình Q xây dựng năm 2016. Nay cụ N đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó chia thừa kế phần tài sản mà cụ M1 được hưởng là ½ thửa đất trên theo quy định của pháp luật cho những người được hưởng thừa kế. Bà hoàn toàn nhất trí với quan điểm của cụ N và đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật, kỷ phần của bà được chia bà xin được nhận giá trị bằng tiền.

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày là: Bà Phí Thị L, bà Phí Thị N1, ông Phí Đình Q, ông Phí Đình T1, bà Phí Thị T2 và ông Phí Đình M đều trình bày:

Các ông, các bà hoàn toàn nhất trí với nội dung như cụ Nguyễn Thị N do bà Phí Thị N1 đại diện theo ủy quyền đã trình bày. Đối với kỷ phần mà các ông, các bà được chia, các ông, các bà đề nghị được nhận bằng hiện vật và tự nguyện giao lại cho cụ Nguyễn Thị N được quyền quản lý và sử dụng. Còn các tài sản trên đất ông Phí Đình Q cũng tự nguyện giao lại cho cụ Nguyễn Thị N và không yêu cầu cụ Nguyễn Thị N phải trả lại giá trị bằng tiền.

3

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài phát biểu quan điểm cho rằng: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 5, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 158, 208, 213, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 95, Điều 100, 188 Luật đất đai 2013; Điều 33, Điều 66 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị N về việc “Yêu cầu xác định phần tài sản của cụ Nguyễn Thị N trong khối tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản do cụ Phí Đình M1 để lại”.

2.Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị N và cụ Phí Đình M1 là: Thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41 có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, có trị giá 924.000.000 đồng.

3.Giao cho cụ Nguyễn Thị N được quyền quản lý và sử dụng thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và sở hữu bộ tài sản trên thửa đất đó nhưng cụ Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm trả bà Phí Thị T giá trị tài sản mà bà Phí Thị T được chia là 57.750.000 đồng (năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng).

Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

4.Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Cụ Nguyễn Thị N do bà Phí Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền tự nguyện xin chịu cả. (xác nhận bà Phí Thị N1 đã nộp đủ 10.000.000đ tại Tòa án).

5.Về án phí: Cụ N, bà L, bà N1, ông Q, ông T1 là những người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí có xác nhận của chính quyền địa phương nên cần được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Còn bà T2, ông M và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

4

Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.

Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Phía bị đơn là bà Phí Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phí Đình M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Phí Thị T và ông Phí Đình M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa bà Phí Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án chia tài sản chung của cụ N và cụ M1 đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và chia thừa kế phần tài sản mà cụ M1 được hưởng là ½ thửa đất trên theo quy định của pháp luật cho những người được hưởng thừa kế. Khi chia cụ N có nguyện vọng xin được nhận phần tài sản được chia bằng hiện vật để làm nơi thờ cúng tổ tiên

HĐXX xét thấy: Quá trình chung sống cụ Nguyễn Thị N và cụ Phí Đình M1 có tạo một được khối tài sản chung là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này từ khi tạo lập đến nay không có biến động gì về mô mốc, ranh giới cũng không có tranh chấp gì về mô mốc, ranh giới với các hộ liền kề. Năm 2010, thửa đất này đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Phí Đình M1.

Theo biên bản xác minh tại UBND xã T xác định, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình cụ Phí Đình M1 có 9 thành viên, gồm: Cụ Phí Đình M1, cụ Nguyễn Thị N, bà Phí Thị L, bà Phí Thị N1, ông Phí Đình Q, ông Phí Đình T1, bà Phí Thị T2, bà Phí Thị T và ông Phí Đình M. Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ thì các đương sự đều trình bày không đóng góp công sức gì vào thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, cần xác định thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của cụ Phí Đình M1 và cụ Nguyễn Thị Na . Theo luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng khi phân chia phải chia đôi. Như vậy cụ Nguyễn Thị N được chia là 154m². Phần còn lại 154m² của cụ M1 được chia cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: 08 người là cụ N và 07 người con. Thì mỗi người được chia là 19,25m². Theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện L thì 01 m² đất của thửa đất số 176 có giá thị 3.000.000đ. Như vậy mỗi kỷ phần được chia là 19,25m² X 3.000.000đ = 57.750.000đ (năm mươi bẩy triệu, bẩy

5

trăm năm mươi nghìn đồng). Do bà Phí Thị L, bà Phí Thị N1, ông Phí Đình Q, ông Phí Đình T1, bà Phí Thị T2 và ông Phí Đình M tự nguyện giao lại phần tài sản được chia cho cụ Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng và không yêu cầu cụ Nguyễn Thị N phải trả lại giá trị bằng tiền. Ông Phí Đình Q cũng tự nguyện giao lại toàn bộ tài sản trên đất cho cụ Nguyễn Thị N và không yêu cầu cụ Nguyễn Thị N phải trả lại giá trị bằng tiền. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đối với phần tài sản mà bà Phí Thị T được chia là 19,25m² đất nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên 19,25m² đất không khai thác được giá trị sử dụng, không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà Phí Thị T có nguyện vọng xin được nhận giá trị bằng tiền. Do vậy cần giao lại 19,25m² đất này cho cụ Nguyễn Thị N quản lý và sử dụng nhưng cụ Nguyễn Thị N có trách nhiệm trả bà Phí Thị T 57.750.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ: Cụ Phí Thị N2 do bà Phí Thị N1 đại diện theo ủy quyền xin tự nguyện chịu 10.000.000đ. (xác nhận bà Phí Thị N1 đã nộp đủ 10.000.000đ tại Tòa án).

Về án phí: Cụ N2, bà L, bà N1, ông Q, ông T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm có xác nhận của chính quyền địa phương nên cần được miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ N2, bà L, bà N1, ông Q, ông T1 là phù hợp với quy định của pháp luật. Còn bà T2, ông M và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 5, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 228; Điều 235; Điều 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 158, 208, 213, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 95, Điều 100, 188 Luật đất đai 2013; Điều 33, Điều 66 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị N về việc “Yêu cầu xác định phần tài sản của cụ Nguyễn Thị N trong khối tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản do cụ Phí Đình M1 để lại".
  2. Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị N và cụ Phí Đình M1 là: Thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41 có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, có trị giá 924.000.000 đồng.
  3. Giao cho cụ Nguyễn Thị N được quyền quản lý và sử dụng thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, có diện tích 308m² nằm tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và sở hữu bộ tài sản trên thửa đất đó nhưng cụ Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm trả bà Phí Thị T giá trị tài sản mà bà Phí Thị T được chia là 57.750.000 đồng (năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng).

    Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Cụ Nguyễn Thị N do bà Phí Thị N1 là người đại diện theo ủy quyền tự nguyện xin chịu cả. (xác nhận bà Phí Thị N1 đã nộp đủ 10.000.000đ tại Tòa án).
  5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Cụ N3, bà L, bà N1, ông Q, ông T1. Bà T2, ông M và bà T mỗi người phải chịu 2.887.000đ (hai triệu tám trăm tám mươi bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm,
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.

7

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Lương Tài;
  • - THADS huyện Lương Tài
  • (khi án có hiệu lực PL);
  • - Phòng GĐ TAND Tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Phong

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DSST ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI về tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 01/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung Và chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị N về việc “Yêu cầu xác định phần tài sản của cụ Nguyễn Thị N trong khối tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản do cụ Phí Đình M1 để lại”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger