Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 01/2024/KDTM-ST

Ngày 07-5-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín

dụng.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hương.
  • 2. Ông Lò Văn Khẹt.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 tháng 3, 12 tháng 4 và 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST–KDTM ngày 04 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST- KDTM ngày 16 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A). Địa chỉ: tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp:

Ông Trương Công H – Giám đốc. Có đề nghị xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Anh T – Phó giám đốc. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Cầm Thị S. Địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đặng Văn C. Địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Ông Cầm Văn Ơ, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Ông Phạm Văn H1, địa chỉ: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và bản tự khai nguyên đơn Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A) trình bày:

Ngày 12/7/2021 bà Cầm Thị S đã ký Hợp đồng tín dụng số 7905LAV202100345/HĐTD với A, mục đích vay vốn để mua ôtô phục vụ kinh doanh chuyên trở hàng hóa (có giấy phép đăng ký kinh doanh) với số tiền 250.000.000 đồng.

Biện pháp bảo đảm: A Chi nhánh huyện M nhận thế chấp: Tại hợp đồng thế chấp tài sản số 1207-2021/HĐTC ngày 12/7/2021: Tài sản là Xe ô tô, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26002014, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2021; nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330. Giá trị thế chấp 500 triệu đồng, mang tên bà Cầm Thị S.

Giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản thế chấp: Bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26002014, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2021; nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S.

Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hà Nội ngày 13/7/2021 theo đúng quy định của pháp luật.

Tình trạng tài sản bảo đảm: Tài sản thế chấp trên đang được ông Phạm Văn H1 giữ theo biên bản ngày 14/11/2022.

Việc vi phạm nghĩa vụ: Dư nợ đến ngày 31/7/2023: Gốc: 192.000.000, đồng; lãi: 21.148.973, đồng. Cộng gốc và lãi: 213.148.973, đồng (Bằng chữ: Hai trăm mười ba triệu một trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm bảy ba đồng).

Cầm Thị S không trả khoản nợ khi đến hạn theo phân kỳ trả nợ ngày 13/8/2022 số tiền gốc 50.000.000, đồng và số tiền lãi là 14.547.945, đồng; khoản nợ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 25/8/2022. A Chi nhánh huyện M đã nhiều lần làm việc, giải thích, tuyên truyền, thuyết phục nhưng Bà Cầm Thị S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

A Chi nhánh huyện M đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C (chồng bà S), ông Cầm Văn Ơ (bố bà S) thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo hợp đồng tín dụng, yêu cầu bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp. Đồng thời yêu cầu ông Phạm Văn H1 đang giữ xe ôtô theo biên bản ngày 14/11/2022, phải giao

trả xe để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm. Tuy nhiên, tính đến nay, bà Cầm Thị S vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A.

Căn cứ các nội dung nêu trên, A thông qua A Chi nhánh huyện M yêu cầu Tòa án tuyên buộc như sau:

Tuyên buộc bà Cầm Thị S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 233.120.836, đồng.

Trong đó: Nợ gốc: 192.000.000, đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 37.297.546, đồng; nợ lãi quá hạn: 3.823.290, đồng.

Tuyên buộc bà Cầm Thị S phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 7905LAV202100345/HĐTD, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế bà Cầm Thị S trả hết nợ gốc cho A.

T1 nếu bà Cầm Thị S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh huyện M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Cầm Thị S theo hợp đồng bảo đảm 1207-2021/HĐTC để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh huyện M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Cầm Thị S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị bà Cầm Thị S chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Cầm Thị S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn C, ông Cầm Văn Ơ từ chối khai báo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H1 trình bày:

Việc ông giữ tài sản là xe ôtô, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 26002014, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2021; nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12. Có thông qua hợp đồng cầm cố (ông có giấy phép kinh doanh cầm đồ), để cho bà Cầm Thị S và ông Đặng Văn C vay tiền ngày 30/3/2022. Quá thời hạn cầm cố ông đã bán xe cho người khác để thu hồi nợ. Khi thực hiện cho cầm cố xe ông không biết chiếc xe được thế chấp ở Ngân hàng. Ông Đặng Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết giao dịch giữa ông và

Cầm Thị S và ông Đặng Văn C. Ông Đặng Văn C không cung cấp thông tin về khoản vay, hợp đồng cầm cố, hợp đồng bán lại xe cho người khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án;

Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTPày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A).

Buộc bà Cầm Thị S thanh toán trả nợ cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M cụ thể:

Tiền nợ gốc 192.000.000, đồng (một trăm chín mươi hai triệu đồng);

Nợ lãi trong hạn đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 37.297.546, đồng; nợ lãi quá hạn: 3.823.290, đồng. Tổng cộng: 233.120.836, đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bà Cầm Thị S còn phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bà Cầm Thị S không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N, chi nhánh huyện M có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ: Xe ôtô nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S.

Buộc bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C và ông Phạm Văn H1 giao xe ô tô nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M, tỉnh Sơn La, để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Cầm Thị S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Cầm Thị S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp Kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền: Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A) khởi kiện tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Cầm Thị S. Địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng hóa. Vì vậy theo quy định của khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Bị đơn bà Cầm Thị S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn C đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H1 có đơn đề nghị xử vắng mặt, căn cứ theo quy định của Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt họ.

[2] Xét về yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A):

Ngày 12/7/2021 A và bà Cầm Thị S đã ký Hợp đồng tín dụng số 7905LAV202100345/HĐTD với mục đích vay vốn để mua xe ôtô phục vụ kinh doanh vận chuyển hàng hóa (bà Cầm Thị S có giấy phép đăng ký kinh doanh) với số tiền 250.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng bên vay bà Cầm Thị S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ, cụ thể: Bà Cầm Thị S không trả khoản nợ khi đến hạn theo phân kỳ trả nợ ngày 13/8/2022 số tiền gốc 50.000.000, đồng và số tiền lãi là 14.547.945, đồng; khoản nợ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 25/8/2022.

Dư nợ đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 233.120.836, đồng.

Trong đó: Nợ gốc: 192.000.000, đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 37.297.546, đồng; nợ lãi quá hạn: 3.823.290, đồng.

Xét thấy, bà Cầm Thị S không trả nợ cho A theo đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, vi phạm Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụngDo đó, A yêu cầu bà Cầm Thị S phải trả toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 07/5/2024 là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của A.

Buộc buộc bà Cầm Thị S thanh toán trả nợ cho A cụ thể:

Tiền nợ gốc 192.000.000, đồng (một trăm chín mươi hai triệu đồng);

Nợ lãi trong hạn đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 37.297.546, đồng (ba mươi bẩy triệu hai trăm chín mươi bẩy nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 3.823.290, đồng (ba triệu tám trăm hai mươi ba nghìn hai trăm chín mươi đồng). Tổng cộng: 233.120.836, đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).

Cầm Thị S phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.

[3] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của A:

Biện pháp bảo đảm: A Chi nhánh huyện M nhận thế chấp: Tại hợp đồng thế chấp tài sản số 1207-2021/HĐTC ngày 12/7/2021: Tài sản là Xe ô tô, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26002014, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2021; nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330. Giá trị thế chấp 500 triệu đồng, mang tên bà Cầm Thị S.

Giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản thế chấp: Bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26002014, do Công an tỉnh S cấp ngày 23/6/2021; nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S.

Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hà Nội ngày 13/7/2021 theo đúng quy định của pháp luật.

Xét tình trạng tài sản bảo đảm: Tài sản thế chấp trên đang được ông Phạm Văn H1 giữ theo biên bản ngày 14/11/2022, theo ông Phạm Văn H1 thì việc giữ xe là do có hợp đồng cầm cố để vay tiền giữa ông Phạm Văn H1 với bà Cầm Thị S và ông Đặng Văn C, do quá hạn ông Phạm Văn H1 đã bán xe cho người khác để thu hồi nợ. Tòa án đã yêu cầu ông cung cấp thông tin về khoản vay, hợp đồng cầm cố, hợp đồng bán lại xe cho người khác, nhưng ông Phạm Văn H1 không cung cấp, do đó không có căn cứ xem xét tính hợp pháp của việc cầm cố giữa ông Phạm Văn H1 với bà Cầm Thị S và ông Đặng Văn C.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp nói trên được các bên tự nguyện ký kết, hợp đồng được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bà Cầm Thị S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì A có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật. Và cần buộc bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C và ông Phạm Văn H1 giao xe ô tô nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S cho A để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

[4] Xét yêu cầu ông Đặng Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết giao dịch giữa ông Đặng Văn C với bà Cầm Thị S và ông Đặng Văn C.

Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự không xem xét trong vụ án này.

[5] Xét yêu cầu của A Chi nhánh huyện M đưa ông Cầm Văn Ơ, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, là bố đẻ của bà Cầm Thị S vào tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ các tài liệu chứng cứ không xác định ông Cầm Văn Ơ có liên quan đến việc vay vốn và kinh doanh của vợ chồng ông Đặng Văn C với bà Cầm Thị S. Đồng thời không có việc cam kết của ông Cầm Văn Ơ với Ngân hàng trong trường hợp ông Đặng Văn C với bà Cầm Thị S không trả được nợ thì ông Cầm Văn Ơ cùng có trách nhiệm trả nợ. Do đó ông Cầm Văn Ơ không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, theo quy định của khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cầm Thị S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án;

Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTPày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A).

2. Buộc bà Cầm Thị S thanh toán trả nợ cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M, theo Hợp đồng tín dụng số 7905LAV202100345/HĐTD ngày 12/7/2021 cụ thể:

Tiền nợ gốc 192.000.000, đồng (một trăm chín mươi hai triệu đồng);

Nợ lãi trong hạn đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 là: 37.297.546, đồng (ba mươi bẩy triệu hai trăm chín mươi bẩy nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 3.823.290, đồng (ba triệu tám trăm hai mươi ba nghìn hai trăm chín mươi đồng). Tổng cộng: 233.120.836, đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bà Cầm Thị S còn phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Trường hợp bà Cầm Thị S không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N, chi nhánh huyện M có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ:

Xe ôtô nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S.

Buộc bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C và ông Phạm Văn H1 giao xe ô tô nhãn hiệu DOTHANH, biển số đăng ký 26C-107.12, số máy RPPMB17APKD001045, số khung JE493ZLQ433096330 mang tên bà Cầm Thị S cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M, tỉnh Sơn La, để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

4. Trường hợp bà Cầm Thị S không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N, chi nhánh huyện M có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Cầm Thị S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí:

Cầm Thị S phải chịu 11.656.000, đồng (mười một triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A) 5.299.000, đồng (năm triệu hai trăm chín mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001206 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Báo cho Ngân hàng N, chi nhánh huyện M (A) biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 07/5/2024.

Báo cho bà Cầm Thị S, ông Đặng Văn C và ông Phạm Văn H1 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - Các đương sự (4);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng số 01, ngày 07/5/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger