Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 01/2024/DS-ST

Ngày: 05-01-2024

V/v: Tranh chấp tiền phường họ.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ.

ông Phan Mạnh Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp tiền phường họ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023; Thông báo hoãn phiên tòa số 55/2023/TB-DSST ngày 14/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2023/QĐST-DS ngày 22/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: xóm A, thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là: bà Trương Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn G, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn:

+ bà Phạm Thị T, sinh năm 1974.

+ ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970.

+ chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1995.

+ chị Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm 1997.

Đều cư trú: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị T là ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1968. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị T:

+ Ông Hoàng Thanh S – Luật sư – Văn phòng luật sư Hoàng Thanh S và cộng sự.

1

Địa chỉ: số F, ngách G C, quận B, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; các bị đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và bà Phạm Thị T có thoả thuận chơi phường họ với nhau, tuy là chơi phường nhưng không có biên bản họp phường họ, bà không biết và không có danh sách thành viên chơi phường, không có thời gian mở bát họ, không có thỏa thuận ràng buộc giữa chủ phường và bà. Khi chơi phường thì bà T là người đứng cái chịu trách nhiệm thu và ký giao nhận tiền vào sổ của bà. Giữa bà và bà T, ông L, chị T1 cũng không có bất kì văn bản nào thoả thuận về việc chơi phường họ, về thời điểm đóng tiền, thời điểm lấy tiền họ và thoả thuận cắt lãi mà chỉ là thoả thuận miệng. Do không được họp, biểu quyết về cách thức chơi phường nên bà T thông báo cho bà mức thu và mức được hưởng phường. Về thời điểm đóng tiền phường, thời điểm lấy tiền phường và thoả thuận cắt lãi giữa bà và bà T được thoả thuận miệng, không có văn bản giấy tờ gì. Việc đóng tiền các dây phường bà chơi với bà T cụ thể như sau:

1. Dây thứ nhất:

Ngày 05/7/2017 âm lịch bà bắt đầu chơi, hình thức chơi mỗi tháng đóng một lần, số tiền đóng 5.000.000 đồng/tháng, một dây tương đương với 12 tháng với mức lãi suất là 200.000 đồng/1 triệu/tháng. Bà là người đăng ký lấy cuối cùng, tiền phường gốc bà sẽ phải đóng là = 60.000.000 đồng, còn lãi là 12.000.000 đồng (cắt 1.000.000 đồng tiền lãi còn 11.000.000 đồng vì nhà bà T Lăng làm cái). Dây phường này bà được chốt lấy cuối cùng là phải đóng đủ 12 tháng. Thực tế bà đã đóng được 09 tháng (đóng hết đến ngày 05/3/2018 âm lịch). Từ 06/3/2018 bà không đóng nữa vì bà Tâm L2 tuyên bố vỡ nợ. Tổng dây phường này bà đã đóng tiền gốc cho nhà bà T Lăng được 45 triệu đồng. Những lần đóng tiền thì bà đến trực tiếp nhà và gia đình nhà bà T, L2, T1 đều ký nhận tiền đầy đủ, cụ thể:

  • - Ngày 05/7/2017 bà đóng 05 triệu đồng, bà T nhận.
  • - Ngày 05/8/2017 bà đóng 05 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/9/2017 bà đóng 05 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/10/2017 bà đóng 05 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/11/2017 bà đóng 05 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/12/2017 bà đóng 05 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/01/2018 bà đóng 05 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/02/2018 bà đóng 05 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/03/2018 bà đóng 05 triệu đồng, ông L2 nhận.

2

2. Dây thứ hai:

Ngày 05/7/2017 âm lịch bắt đầu chơi, hình thức chơi mỗi tháng đóng một lần với số tiền 10.000.000 đồng/tháng, một dây tương đương với 12 tháng với mức lãi suất là 200.000 đồng/1 triệu/tháng. Bà là người đăng ký lấy cuối cùng, tiền phường gốc bà sẽ phải đóng là = 120.000.000 đồng, còn lãi là 24.000.000 đồng (cắt 2.000.000 đồng tiền lãi còn 22.000.000 đồng vì nhà bà T Lăng làm cái). Dây phường này bà được chốt lấy cuối cùng là phải đóng đủ 12 tháng. Thực tế bà đã đóng được 9 tháng (đóng hết đến ngày 05/3/2018 âm lịch). Từ 06/3/2018 bà không đóng nữa vì bà Tâm L2 tuyên bố vỡ nợ. Tổng dây phường này bà đã đóng tiền gốc cho nhà bà T Lăng được 90 triệu đồng. Những lần đóng tiền thì bà trực tiếp đến nhà bà T và gia đình nhà bà T, L2, T1 đều ký nhận tiền đầy đủ, cụ thể:

  • - Ngày 05/7/2017 bà đóng 10 triệu đồng, bà T nhận.
  • - Ngày 05/8/2017 bà đóng 10 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/9/2017 bà đóng 10 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/10/2017 bà đóng 10 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/11/2017 bà đóng 10 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/12/2017 bà đóng 10 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/01/2018 bà đóng 10 triệu đồng, ông L2 nhận.
  • - Ngày 05/02/2018 bà đóng 10 triệu đồng, chị T1 nhận.
  • - Ngày 05/3/2018 bà đóng 10 triệu đồng, ông L2 nhận.

Tổng số tiền phường bà đã đóng đối với 02 dây phường cho bà T, ông L2, chị T1 là 135.000.000 đồng tiền gốc, chưa kể lãi. Bà yêu cầu gia đình nhà bà Tâm L2 phải trả đủ cho bà số tiền 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) tiền phường gốc, đối với số tiền lãi của 02 công phường này bà không yêu cầu.

Ngoài 02 dây phường trên bà không còn chơi với nhà T Lăng dây phường nào khác. Không cho gia đình nhà Tâm L2 vay nợ khoản vay nào. Số tiền 135 triệu đồng bà đóng phường cho nhà T, L2, T1 là tiền cá nhân của bà, không liên quan đến bất kỳ ai trong gia đình. Bà đề nghị Toà án không triệu tập chồng, các con của bà đến Toà án làm việc với bất kỳ tư cách nào.

Đối với yêu cầu về việc đưa những người cùng tham gia chơi họ (bà T cho rằng họ cùng tham gia chơi với bà) với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và buộc những người này có trách nhiệm trả tiền chơi phường cho bà, bà không đồng ý vì bà không biết những người này, bà chỉ biết chơi phường họ với bà T, bà T là chủ phường và bà nộp tiền trực tiếp cho bà T, ông L2 và chị T1. Bà không đồng ý với yêu cầu của bà T về việc chuyển giao thực hiện nghĩa vụ giữa bà T sang những người này theo ý kiến của bà T.

Bà H rút yêu cầu đối với chị Nguyễn Thị Mai L1 vì chị L1 không nhận tiền phường của bà, không có liên quan gì trong vụ án.

Đại diện theo uỷ quyền của bà H trình bày: nhất trí với toàn bộ lời khai trình bày của nguyên đơn đã trình bày và đề nghị Toà án căn cứ lời khai trên giải quyết theo quy định của pháp luật.

3

Tại lời trình bày tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (BL 104 - 105) người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là bà Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T xác nhận có việc chơi 02 dây phường họ với bà H, tổng số tiền phường bà T đã nhận của bà H là 135.000.000đ. Tuy nhiên số tiền bà đã nhận của bà H thì bà T đã thanh toán cho những người cùng chơi đến lượt lấy. Những người cùng chơi dây phường đã lấy nhưng không tiếp tục đóng cho bà nên bà không có tiền để trả cho bà H. Bà đề nghị Tòa án triệu tập những người cùng chơi dây phường với bà H tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để họ phải có trách nhiệm nghĩa vụ đóng tiền phường họ cho bà T để bà T mới có trách nhiệm trả tiền cho bà H. Bà Tâm giao n cho Tòa án 01 Đơn yêu cầu đề ngày 19/10/2023 về việc triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án.

Tòa án đã tiến hành báo gọi các cá nhân có tên theo Danh sách thành viên dây phường họ liên quan đến bà Nguyễn Thị H do bà T cung cấp cho Tòa án và tiến hành xác minh tại UBND xã H.

Tại Biên bản xác minh đề ngày 13/11/2023 UBND xã H cho biết: Sau khi nhận được Giấy báo của TAND huyện Mỹ Đức, UBND xã đã giao toàn bộ giấy báo cho các ông Trưởng thôn. Các Giấy báo có đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ đều đã được Trưởng thôn giao lại trực tiếp theo như trong Giấy báo của Toà án. Tuy nhiên có một số giấy báo không rõ thông tin tên, tuổi, địa chỉ nên trưởng thôn không thể giao được vì không có ai nhận, cũng không biết ai để giao Giấy báo đó. Ngoài ra thì có một số giấy báo có quen biết thân thích với Trưởng thôn nên mặc dù không rõ cụ thể tên tuổi địa chỉ của họ nhưng đã tống đạt trực tiếp theo yêu cầu của Tòa án.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 24/10/2023 ông Nguyễn Trọng Q (là người trong danh sách bà T đề nghị triệu tập) trình bày: ông có chơi phường họ với bà T, ông không biết những người chơi cùng là ai, chỉ biết đóng và nhận tiền trực tiếp từ bà T, không được tham gia họp thỏa thuận phường họ, lệ chơi do bà T đặt ra, đóng tiền trực tiếp cho bà T. Ông chơi 01 công phường với bà T, mỗi tháng đóng 5 triệu đồng, thời điểm bắt đầu chơi là ngày 05/7/2017 âm lịch, ông đã đóng được 08 tháng. Tổng số tiền ông đã đóng cho bà T là 40 triệu đồng, ông chưa được lấy tiền phường do bà T tuyên bố vợ nợ. Nay bà T đề nghị Tòa án đưa ông vào tham gia tố tụng và yêu cầu ông phải có nghĩa vụ đối với những người cùng chơi. Quan điểm của ông là không chấp nhận yêu cầu của bà T vì bản thân bà T đang là người có nghĩa vụ thanh toán tiền phường họ cho ông nhưng không thực hiện. Bản thân ông cũng không biết những người cùng chơi phường nên ông không có nghĩa vụ với những người này. Đối với số tiền ông đã đóng tiền phường họ cho bà T thì ông sẽ khởi kiện yêu cầu bà T trả cho ông trong vụ án khác nên ông đề nghị Tòa án không triệu tập ông đến Tòa án làm việc với bất kỳ tư cách nào.

4

Ngày 20/7/2023 Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức có Công văn số 168/2023/CV-TA gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M về việc đề nghị cung cấp hồ sơ tài liệu.

Quá trình giải quyết vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết đơn thư liên quan đến Đơn tố cáo của các công dân tại xã H đối với gia đình bà Phạm Thị T.

Tại Kết luận giám định số 3520/KLGĐ-PC09-DD ngày 07/6/2019 của Phòng K - Công an thành phố H có nội dung:

....Là chữ do người có mẫu chữ viết đứng tên Phạm Thị T trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) viết ra.

...là chữ do người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Thanh T1 trên các mẫu so sánh (ký hiệu M3, M4) viết ra).

Không có đủ cơ sở kết luận 2 người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Mai L1, Nguyễn Văn L trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M5 đến M7) có viết ra phần chữ viết trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A68) hay không.

Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng không có kết quả do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh T1 đều vắng mặt. Bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, không đồng ý với quan điểm của bị đơn đưa ra. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình. Các bị đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt, không có ý kiến, quan điểm.

Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc giải quyết vụ án:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn mặc dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, không đến làm việc, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Căn cứ các điều 288, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015đề nghị Hội đồng xét xử, buộc bị đơn phải thanh toán tiền phường họ.

- Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Buộc bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh T1 phải thanh toán tiền phường họ cho bà H số tiền là 135.000.000đ. Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi đối với số tiền phường đã đóng cho bị đơn.

5

- Chấp nhận yêu cầu của bà H về việc rút yêu cầu đối với chị Nguyễn Thị Mai L1.

- Về án phí: Bà T, ông L, chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án dân sự Tranh chấp tiền phường họ. Bị đơn bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T1 đều đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú tại thôn X, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Mỹ Đức.

Tại phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bà T, ông L, chị T1, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền lợi ích đều vắng mặt đến lần thứ 2, không có lý do. Ngày 26/12/2023 Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức nhận được Đơn đề nghị hoãn phiên toà của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn với lý do: vụ án phát sinh thêm nhiều tình tiết, chứng cứ và lời khai mới của các đương sự, người có quyền lợi liên quan tham gia dây phường họ mà Tòa án thu thập, luật sư chưa kịp sao chụp những chứng cứ, tài liệu để nghiên cứu và định hướng bào chữa. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 03/10/2023 bà Phạm Thị T có Đơn yêu cầu sao chụp hồ sơ vụ án, ngay sau đó Toà án đã cho bà T, ông S sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án. Từ thời điểm đó đến ngày mở phiên toà đã hơn 03 tháng, kể từ ngày sao chụp, thời gian đó rất dài đủ để bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn thực hiện việc nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị luận cứ bảo vệ. Mặt khác, phiên tòa hôm nay được mở lại sau 04 lần hoãn phiên tòa trước đó, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ cho các đương sự trong vụ án theo quy định. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận đề nghị luật sư về việc hoãn phiên toà để có thời gian nghiên cứu hồ sơ.

Về nội dung:

[1] Về giao dịch phường họ được xác lập giữa bà Nguyễn Thị H và bà Phạm Thị T: Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự thì họ, hụi, biêu phường là hình thức giao dịch về tài sản. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà H, bà T đều xác nhận có việc bà H chơi 02 dây phường với chủ cái là bà T, nguyên đơn xuất trình các tài liệu gốc đã được trưng cầu giám định, có đủ căn cứ xác định 02 dây phường bà H chơi với bà T đều được xác lập vào ngày 05/7/2017 âm lịch, với mức đóng họ là 5.000.000đ/tháng và 10.000.000đ/tháng. Việc bà H, bà T xác lập, thực hiện giao dịch này trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực.

6

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Phạm Thị T về việc buộc bà T, ông L và chị T1 phải trả cho chị số tiền phường gốc đã nộp là 135.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày khi tham gia chơi phường với bà T thì chỉ giao dịch với bà T; chị T1 và ông L chỉ thu hộ tiền phường khi bà T không có nhà. Sau khi nhận tiền phường, chủ phường là bà T tuyên bố vỡ nợ, không thực hiện việc chi trả cho thành viên chơi phường. Nay nguyên đơn yêu cầu bà T, ông L và chị T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền phường đã đóng. Hội đồng xét xử thấy: để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn xuất trình tài liệu gốc là sổ ghi chép thể hiện từng lần đóng tiền, số tiền đã nộp của 02 dây phường nói trên cho gia đình bà T với số tiền đã đóng là 135.000.000đ. Các tài liệu này đã được trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 3520/KLGĐ-PC09-DD ngày 07/6/2019 của Phòng K - Công an thành phố H đã xác định đúng chữ viết, chữ ký của người nhận tiền là bà T và chị T1 tương ứng trong từng lần nhận tiền của 02 dây phường nói trên. Đối với phần tiền ông L nhận ngày 5/8/2017, 05/10/2017, 05/01/2018, 05/3/2018 với số tiền mỗi lần 05 triệu đồng; ông L nhận 10 triệu đồng vào các ngày 05/8/2017, 05/10/2017, 05/01/2018 và ngày 05/3/2018. Quá trình giải quyết vụ án ông L không có ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Kết quả trưng cầu giám định kết luận do tài liệu mẫu so sánh không đủ để kết luận chữ ký, chữ viết của ông L. Xét thấy, việc gia đình bà T mở phường họ được diễn ra công khai, rộng rãi từ năm 2017 – 2018, việc bà T tổ chức các dây phường họ có lãi, có thu lợi nhuận để phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế. Ông L, chị T1 mặc dù không tham gia với tư cách là chủ phường nhưng biết rõ và có tham gia nhận tiền họ của những người chơi. Toà án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tại Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn L đề ngày 03/01/2019; 31/12/2019; Bản tường trình đề ngày 31/12/2018 lời khai của ông L, chị T1 tại Cơ quan điều tra và tài liệu gốc là G nhận tiền. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại sổ ghi chép thì thứ tự các lần ông L nhận tiền đều được ghi chép theo trình từ thời gian, việc ghi chép không có dấu hiệu tẩy, xóa, ghi chèn nên có đủ căn cứ xác định người nhận tiền tên L trong Giấy nhận tiền là ông Nguyễn Văn L. Cần buộc bà T, ông L và chị T1 phải có trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ trả số tiền phường họ là 135.000.000đ cho bà H.

Theo qui định tại khoản 3, 4 Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ qui định về họ, hụi, biêu, phường thì chủ họ có nghĩa vụ: giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ và nộp thay phần họ của thành viên nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận không có thỏa thuận khác giữa chủ họ và các thành viên trong dây họ trong việc các thành viên này không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền họ cho chủ họ nên bà T phải có trách nhiệm trả tiền phường họ cho các thành viên đến kỳ bốc họ. Xét 02 dây phường họ được xác lập ngày 05/9/2017 âm lịch bà H đã

7

đóng và chưa đến kỳ lấy họ theo thỏa thuận nhưng do bà T là chủ phường bị vỡ nợ nên bà H không tiếp tục nộp tiền phường. Bà T là chủ họ không có quan điểm phản hồi khi bà H tự ý ngừng việc nộp phường theo thỏa thuận. Tính từ thời điểm chấm dứt việc nộp phường đến nay thì đã đến thời điểm lĩnh tiền phường họ của bà H đã lâu nhưng bà T không thanh toán cho bà H số tiền phường đã đóng. Do vậy cần buộc bà T, ông L và chị T1 phải thanh toán cho bà H toàn bộ số tiền đã đóng của dây phường là 135.000.000đ là có căn cứ để chấp nhận.

Về số tiền lãi của 02 dây phường: Tại phiên hòa giải ngày 12/10/2023 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đã rút yêu cầu tính lãi đối với 02 dây phường này. Việc rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì bị đơn phải chịu mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả.

[3] Xét yêu cầu đưa những người cùng tham gia chơi phường vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: theo quy định tại khoản 2, 5 điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ qui định về họ, hụi, biêu, phường thì nghĩa vụ của chủ họ là: thông báo đầy đủ về số lượng dây họ; phần họ, kỳ mở họ; số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ và để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: tuy là chơi phường nhưng không có biên bản họp phường họ, bà không biết và không có danh sách thành viên chơi phường, không có thời gian mở bát họ, không có thỏa thuận ràng buộc giữa chủ phường và bà. Khi chơi phường thì bà T là người đứng cái chịu trách nhiệm thu và ký giao nhận tiền vào sổ của bà, bà T thông báo mức thu, lãi suất và mức được hưởng phường. Quá trình giải quyết vụ án bà T không chứng minh được việc đã thực hiện nghĩa vụ của chủ họ theo quy định trên và xuất trình 01 Danh sách thành viên dây phường họ liên quan đến bà Nguyễn Thị H và không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các thành viên trong danh sách có tham gia các dây phường cùng nguyên đơn. Để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành báo gọi những người có tên trong danh sách do bà T xuất trình. Ông Nguyễn Trọng Q là một trong số những người có tên trong danh sách của bà T. Ông Q xác nhận có chơi phường họ với bà T, các bà không biết những người chơi cùng là ai, chỉ biết đóng và nhận tiền trực tiếp từ bà T, không được tham gia họp thỏa thuận phường họ, lệ chơi do bà T đặt ra, đóng tiền trực tiếp cho bà T. Ông chơi phường với bà T và chưa được lấy tiền phường do bà T tuyên bố vợ nợ. Nay bà T đề nghị Tòa án đưa ông vào tham gia tố tụng và yêu cầu ông phải có nghĩa vụ đối với những người cùng

8

chơi. Quan điểm của ông Q là không chấp nhận yêu cầu của bà T vì bản thân bà T đang là người có nghĩa vụ thanh toán tiền phường họ cho ông nhưng không thực hiện. Bản thân ông cũng không biết những người cùng chơi phường nên ông không có nghĩa vụ với những người này. Đối với số tiền ông đã đóng tiền phường họ cho bà T thì ông sẽ khởi kiện yêu cầu bà T trả cho ông trong vụ án khác nên ông đề nghị Tòa án không triệu tập đến Tòa án làm việc với bất kỳ tư cách nào.

Đối với những người khác có tên trong danh sách, Tòa án đã thực hiện báo gọi và phối hợp UBND xã H, kết quả không tống đạt được cho những người này vì không có thông tin cụ thể.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự về chuyển giao việc thực hiện nghĩa quy định: “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý”. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không đồng ý với yêu cầu này của bị đơn. Do vậy không chấp nhận yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn về việc đưa người cùng tham gia chơi các dây phường tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và chuyển giao nghĩa vụ theo yêu cầu của bà T.

Bà T có quyền khởi kiện các thành viên tham gia chơi phường với bà đã nhận tiền họ nhưng vi phạm nghĩa vụ nộp tiền cho bà mà bà đã phải nộp thay trong vụ án khác khi có đủ điều kiện khởi kiện.

[4] Đối với yêu cầu rút yêu cầu khởi kiện đối với chị Nguyễn Thị Mai L1 của bà Nguyễn Thị H: Xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị L1 tham gia dây phường, không nhận tiền đóng họ của bà H, không liên quan gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng điều 288; điều 357; điều 468; điều 370 và điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

9

- Áp dụng Điều 15; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi họ, biêu, phường;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T1 về việc tranh chấp tiền phường họ.

    - Buộc bị đơn bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T1 chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền phường được xác lập theo 02 dây phường ngày 05/9/2017 âm lịch là 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì bị đơn phải chịu mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc đưa người tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T1 phải liên đới nộp 6.750.000 đồng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 3.375.000₫ đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 39381 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Hương Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hường

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp tiền phường họ.

  • Số bản án: 01/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền phường họ.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền phường họ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger