Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 05-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
  2. Ông Lê Quang Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Thanh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 tháng 12 năm 2023 và ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 451/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 324/2023/HSST-QĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 328/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/10/2005 (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 19 ngày), tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Anh T1, sinh năm 1979 và bà: Trần Thị V, sinh năm 1978; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Lê Hồng D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại: Lê Ngọc B, sinh năm 1977 (chết).

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bà B:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1948 (mẹ ruột) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Tổ 55, khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Võ Văn H1, sinh năm 1978 (chồng) (có mặt).
  4. Võ Thanh H2, sinh năm 1999 (con ruột) (vắng mặt).
  5. Cùng nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T là sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học S, chưa có giấy phép lái xe hạng A1. Vào khoảng 05 giờ 10 phút ngày 13/7/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đỏ xanh trắng đen, biển số 83X1-055.91 đi trên đường N hướng từ cầu A, huyện C đến cầu Đ, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp với tốc độ khoảng 70 - 80km/h. Khoảng 05 giờ 23 phút, khi T điều khiển xe đến điểm giao nhau giữa đường N và đường T thuộc khóm M, phường M, thành phố C thì xảy ra va chạm với xe gắn máy biển số 66FA-014.69 do Lê Ngọc B điều khiển cùng chiều phía trước đang chuyển hướng rẽ trái sang đường. Hậu quả: bà B tử vong tại hiện trường, T bị chấn thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị đến ngày 04/8/2023 thì xuất viện.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là giao lộ giữa đường N và đường T; đường rải nhựa bằng phẳng; có vạch kẻ liền nét và đứt quãng phân chia mỗi bên đường thành hai làn xe chạy. Chiều rộng mặt đường là 1410cm; 1/2 mặt đường có chiều rộng 700cm. Lề chuẩn được xác định là lề bên phải theo hướng đi của hai xe từ cầu A đến cầu Đ. Vùng va chạm có kích thước 60x60cm, từ tâm đo vào lề chuẩn là 515cm, đến vạch kẻ dành cho người đi bộ là 240cm.

Kết luận giám định số 1302/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: tệp dữ liệu video lưu trong đĩa DVD gửi giám định có liên quan đến vụ án không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh, được lưu vào hồ sơ vụ án.

Kết quả tra cứu và khám nghiệm phương tiện trong vụ tai nạn giao thông xác định:

- Đối với xe gắn máy biển số 66FA–014.69: toàn bộ xe bị cháy nham nhở, phần nhựa bị cháy hoàn toàn. Ghi đông bên trái bị cong hướng từ sau ra trước; đầu tay phanh bên phải có vết ma sát mài mòn kích thước 1x1cm; đầu gác chân bên phải có vết ma sát kích thước 1,5x1x5cm; mặt ngoài bàn đạp phanh chân có vết ma sát kích thước 1x3cm; lốc máy bên trái bị bể vỡ; gác chân bên trái, phía trước bị cong gập về trước, cong xuống biến dạng; bình xăng con bị gãy rời. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ có liên quan cho Võ Văn H1 là chồng của bà B.

- Đối với xe mô tô biển số 83X1-055.91: Đầu tay cầm bên trái có vết ma sát mài mòn kim loại kích thước 3,5x3,5cm; phanh tay bên trái bị gãy một đoạn; gương chiếu hậu bên trái bị gãy mất; nhựa ốp cổ trên dưới bị bể vỡ, bung hở; nhựa ốp cổ trước, cụm đèn trước bị bể vỡ; chắn bùn trước bị bể vỡ; phuộc trước phải trái bị cong gập về sau 10cm, lệch sang trái 5cm. ½ mặt ngoài của đoạn dưới phuộc phải phía trước có vết ma sát và hằn kích thước 20x3cm. Mặt ngoài bên phải niềng trước có vết thụng 12x2cm. Bửng xe phải trái bể mất. Gác chân trước bên trái gãy mất; gác chân sau bên trái gập vào, có vết ma sát 11x3cm. Đầu bu lông bên trái đùm sau có vết ma sát 1,5x1,5cm. Nhựa ốp sườn bên trái có vết ma sát 17x2cm. Qua điều tra xác định chiếc xe này của Nguyễn Thế Đ trước đây đã bán cho một tiệm xe cũ tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T mua lại của một người lạ mặt (không rõ nhân thân) và không làm thủ tục sang tên. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ có liên quan cho Nguyễn Anh T.

Bản kết luận giám định tử thi số 143/KLGĐTT-TTPYĐT ngày 14/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định: nguyên nhân tử vong của Lê Ngọc B là do chấn thương sọ não nặng/Lao đa màng.

Kết luận giám định số 783/KL-KTHS ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: tại thời điểm giám định không phát hiện thành phần cồn (Ethanol) trong máu của Lê Ngọc B.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 410/KLTTCT-TTPYĐT ngày 26/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với Nguyễn Anh T xác định: tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 19% (mười chín phần trăm.

Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 28/7/2023 của Bệnh viện Đ1 xác định: Nồng độ cồn (E) trong máu của Nguyễn Anh T dưới ngưỡng phát hiện.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, dữ liệu camera an ninh kết luận: Nguyễn Anh T điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe theo quy định; nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ xe mô tô dẫn đến tai nạn giao thông (vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ). Trong vụ tai nạn giao thông cũng có một phần lỗi của người bị hại Lê Ngọc B là điều khiển xe máy chuyển hướng sang đường không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn (vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 340.000.000 đồng theo thỏa thuận. Gia đình chị B đã làm đơn xin bãi nại, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên phù hợp với biên bản vụ việc tai nạn giao thông; dữ liệu camera an ninh, kết luận giám định kỹ thuật hình sự; kết luận giám định tử thi; kết luận giám định pháp y về thương tích; kết quả xét nghiệm nồng độ cồn; sơ đồ, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám phương tiện; lời khai người liên quan; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 116/CT-VKS-TPCL ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Áp dụng Điều 260 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo T là bà Lê Hồng D trình bày: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo như Viện kiểm sát nêu để áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo.

* Tại phiên tòa anh Võ Văn H1 là người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Vụ tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo. Sau khi bị hại chết thì bị cáo thường xuyên đến thăm viếng và động viên gia đình bị hại, bị cáo đã bồi thường cho phía bị hại 340.000.000 đồng, sau khi xảy ra tai nạn thì bị cáo bị thương nặng nên bị cáo khó khăn trong việc nói, tại phiên tòa bị cáo quay mặt lại xin lỗi phía gia đình bị hại một cách thành khẩn, cho thấy bị cáo đã rất hối hận, ăn năn về hành vi của mình. Đối với trách nhiệm hình sự phía bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo tiếp tục đi học và điều trị thương tích. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho phía bị hại 340.000.000 đồng, phía bị hại không yêu cầu bất cứ khoản thiệt hại gì thêm.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo T đã trên 18 tuổi, nên không đưa người đại diện hợp pháp của bị cáo T tham gia tố tụng. Riêng đối với người bào chữa, do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng có chỉ định người bào chữa cho bị cáo. Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã trên 18 tuổi, tuy nhiên người bào chữa có mặt tại phiên toà và bị cáo đều thống nhất yêu cầu người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo tại phiên toà, xét thấy để đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận bà Lê Hồng D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ tiếp tục bào chữa cho bị cáo tại phiên toà.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc tai nạn giao thông; dữ liệu camera an ninh, kết luận giám định kỹ thuật hình sự; kết luận giám định tử thi; kết luận giám định pháp y về thương tích; kết quả xét nghiệm nồng độ cồn; sơ đồ, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám phương tiện; lời khai người liên quan; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 05 giờ 23 phút ngày 13/7/2023, tại giao lộ giữa đường N và đường T thuộc khóm M, phường M, thành phố C, bị cáo Nguyễn Anh T là người chưa có giấy phép lái xe lại điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm với xe gắn máy do bà Lê Ngọc B điều khiển cùng chiều phía trước đang chuyển hướng rẽ trái sang đường. Hậu quả của vụ tai nạn giao thông làm bà B tử vong, T bị thương tích nặng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người chưa thành niên, nhưng bị cáo có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Bản thân bị cáo chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo lại điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ đã gây tai nạn làm bà Lê Ngọc B tử vong, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định...”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại. Do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả xong; tại thời điểm phạm tội bị cáo còn ở độ tuổi chưa thành niên; bị cáo được tặng giấy khen trong quá trình học tập; bị cáo hiện đang là sinh viên học tại Trường Đại học S; bị hại có một phần lỗi; Quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại, không truy cứu trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa người đại diện bị hại tha thiết xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục việc học và điều trị thương tích. đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng. Đặc biệt bản thân bị cáo cũng bị thương tích 19% tại thời điểm giám định, hiện tại bị cáo vẫn còn phải tiếp tục điều trị, bị cáo hiện đang là sinh viên học tại Trường Đại học S, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, do đó không cần thiết bắt phải chấp hành hình phạt tù mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo điều trị bệnh; tiếp tục việc học, tự cải tạo, lao động, trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số 66FA-014.69; nhãn hiệu HONDA; số loại C50- 81, màu nâu; Số máy: 8113878; Số khung: 8113667 (xe đã qua sử dụng hư hỏng do tai nạn giao thông); 01 (một) giấy đăng ký xe gắn máy biển số 66FA-014.69; nhãn hiệu HONDA; mang tên Lê Ngọc B, ấp C, Tân Hội T2, huyện C là tài sản của bà B. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông H1 (chồng bà B), ông H1 đã nhận lại tài sản, là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 83X1-055.91; nhãn hiệu HONDA; số loại WINNERX 150, màu đỏ - xanh - trắng - đen; Số máy: KC34E1185971; Số khung: 3711LY113199 (xe đã qua sử dụng hư hỏng do tai nạn giao thông); 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 83X1-055.91; nhãn hiệu HONDA; mang tên Nguyễn Thế Đ, Khóm A, Thạnh P, M, Sóc Trăng. Anh Đ đã bán cho T nhưng chưa sang tên. Cơ quan điều tra trả lại tài sản nêu trên cho bị cáo Nguyễn Anh T, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[7] Xét thấy đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T, người đại diện hợp pháp của bị hại là có căn cứ, nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/01/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKDND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger