Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 01/HNGĐ-ST

Ngày: 05/01/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công

2. Bà Nguyễn Thị Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Như Điểm

- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 392/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Xuân D, sinh năm 1984, địa chỉ: tổ G, khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt.

Chỗ ở hiện nay: Hẻm B N, Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978, địa chỉ: tổ G, khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt.

Chỗ ở hiện nay: Hẻm B N, Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 -10 - 2023, quá trình hòa giải tại Tòa án nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Xuân Dông Nguyễn Thanh T quen và yêu nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, quyển 03 ngày 03 tháng 12 năm 2003.

Sau khi kết hôn ông Tbà D chung sống tại tổ G, khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trong thời gian sống chung vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Nguyễn Thanh T không chăm lo cho gia đình và các con. Vợ chồng không tâm đầu ý hợp, không cùng quan điểm dẫn đến bất hòa, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ cuối năm 2021 cho đến nay bà Dông T ly thân. Nay bà D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

- Về con chung: Bà Trần Xuân Dông Nguyễn Thanh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 10/05/2003 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết và Nguyễn Hoàng Bảo T1, sinh ngày 08/9/2021, bà D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu bảo T1 đến tuổi trưởng thành, bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Xuân D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Thanh T:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Thanh T vẫn vắng mặt không có lý do. Ngày 02/01/2024 ông Nguyễn Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, theo đó ông T đồng ý ly hôn với bà D, về con chung, đồng ý giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T1 cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con, cháu Nguyễn Hoàng D1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, về tài sản chung và nợ chung ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến như sau:

Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Xuân D. Về con chung: Bà Dông T có có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 10/05/2003 đã trưởng thành và Nguyễn Hoàng Bảo T1, sinh ngày 08/9/2021. Đề nghị giao con cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Đề nghị ghi nhận ý kiến của bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa bà Trần Xuân Dông Nguyễn Thanh T là tranh chấp ly hôn, bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Xuân Dông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống bà D cho rằng giữa bà Dông T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T thường xuyên vắng nhà, bà D không rõ đi đâu, ông T không chăm lo cho gia đình, vợ chồng không cùng chí hướng, mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, bà D nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành, từ cuối năm 2021 cho đến nay. Bà D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Đối với ông T Tòa án cũng đã nhiều lần mời ông T đến Tòa án để hòa giải cho ông bà nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Như vậy ông T đã không có thiện chí hàn gắn tình cảm, không nỗ lực để giải quyết mâu thuẫn giữa ông và bà D. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà Dông T đã thật sự trầm trọng.

Qua đơn xét xử vắng mặt ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Diễm Như v chứng tỏ lời khai của bà D về mâu thuẫn giữa bà và ông T là đúng.

Trong quá trình làm việc tại Tòa án, thẩm phán đã nhiều lần phân tích động viên bà D trở về đoàn tụ nhưng bà D không đồng ý, tha thiết xin được ly hôn. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc bền vững. Vì vậy cần tuyên xử chấp nhận yêu cầu của bà D về việc xin ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: Bà Trần Xuân Dông Nguyễn Thanh T có có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 10/05/2003 đã trưởng thành Tòa án không xem xét giải quyết và Nguyễn Hoàng Bảo T1, sinh ngày 08/9/2021. Bà Dông T đề nghị giao cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Hoàng Bảo T1 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp nên ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông bà có yêu cầu sẽ xem xét thành vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà D nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; các Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xuân D đối với ông Nguyễn Thanh T về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Xuân D ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T1, sinh ngày 08 - 9 - 2021 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Xuân D về việc không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Thanh T quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Trần Xuân D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010250 ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Như vậy bà D đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình.

5. Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

6.“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Chi cục THA thành phố Bà Rịa;
  • - UBND xã Phước Tín, Phước Long, Bình Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 01/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger