Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 01 - 2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 109/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1996;

Địa chỉ: thôn Việt Cường, xã Việt Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

2. Bị đơn: Chị Lê Trần Kim D, sinh năm 1994;

Quốc tịch: Việt Nam. Hộ chiếu số N 2118360, Tokyo cấp ngày 07/11/2019

Nơi cư trú: Kanagawa - K, Aiko-gun, A, N New Cty A, Nhật Bản.

(Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T và chị Kim D vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai, nguyên đơn là anh Trần Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Lê Trần Kim D quen biết, tìm hiểu nhau khi anh T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, còn chị D sinh sống với bố mẹ từ nhỏ tại đây. Anh T và chị D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 11 tháng 10 năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh T ở thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Đến cuối tháng 10 năm 2022, chị D trở lại Nhật Bản để làm việc, do điều kiện và hoàn cảnh gia đình nên anh T không thể sang Nhật Bản để làm việc và sinh sống cùng với chị D được, từ đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của vợ, chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và do vợ, chồng sống xa cách nhau. Từ khi chị D qua Nhật Bản đến nay vẫn chưa về Việt Nam, vợ, chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, vì thế cuộc sống hôn nhân giữa anh T và chị D không có hạnh phúc, tình cảm vợ, chồng đã phai nhạt theo thời gian. Anh T và chị D đã nhiều lần nói chuyện, hòa giải với nhau về việc hôn nhân gia đình, nhưng không thành. Nay anh T nhận thấy tình cảm vợ, chồng giữa anh T và chị D không còn, anh T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, giải quyết cho anh được ly hôn với chị D.

Về quan hệ con chung: Vợ, chồng kết hôn chưa có con chung, nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại bản tự khai ngày 20 tháng 10 năm 2023 của chị Lê Trần Kim D gửi về từ Nhật Bản, chị D trình bày như sau: Chị D nhất trí với lời trình bày của anh T về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản. Chị đồng ý ly hôn anh T; vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị D ủy quyền cho anh T nhận thay các văn bản tố tụng do Tòa án gửi đến. Chị D đề nghị được xét xử vắng mặt. Các bản tự khai, đơn trình bày của chị D đều có xác nhận của Đ tại Nhật Bản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa,các quy định của pháp luật.

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh T có nơi cư trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị đơn là chị D không có nơi cư trú tại Việt Nam, hiện đang cư trú tại Nhật Bản, vì vậy việc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án anh Trần Văn T xin ly hôn chị Lê Trần Kim D theo thủ tục chung, anh T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ chứng minh và đề nghị Toà án không hòa giải, đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Lê Trần Kim D đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua anh T, chị D cũng đã gửi bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T cho Tòa án. Anh T và chị D đều đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án không thuộc trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh Trần Văn T và chị Lê Trần Kim D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/10/2022 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T và chị D chung sống chung với nhau tại gia đình anh T ở thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Đến cuối năm 2022, chị D qua Nhật Bản để sinh sống và làm việc cùng với bố, mẹ đẻ, anh T không thể sang Nhật Bản để làm việc và sinh sống cùng với chị được, từ đó vợchồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, sống xa cách nhau nên không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì thế cuộc sống hôn nhân giữa anh T và chị D1 có hạnh phúc.Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh T và chị D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh T và chị D đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay, không có quan hệ gì với nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh T, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết cho anh Trần Văn T được ly hôn với chị Lê Trần Kim D.

[3] Về quan hệ con chung: Vợ, chồng anh T và chị D không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Vợ, chồng anh T và chị D1 có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí và lệ phí Tòa án: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, nguyên đơn anh Trần Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 28, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T được ly hôn chị Lê Trần Kim D.
  3. Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T đã nộp đủ án phí theo biên lai số 0005730 ngày 12/10/2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình.
  6. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn chị Lê Trần Kim D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - UBND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án,
  • - Lưu HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger