|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/DS-ST Ngày: 05-01-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Ông Nguyễn Hoàng Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Thảo Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 499/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 141/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 N, phường V, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D: Ông Huỳnh Anh T – Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Long An kiêm Trưởng phòng giao dịch B.
(Theo Quyết định ủy quyền 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022 v/v ủy quyền ký hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Anh T: Ông Phan Phú Kh– Chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân
Địa chỉ: Số 18A Ng, khu phố 3, thị trấn B, tỉnh Long An.
(Văn bản ủy quyền ngày 16/8/2023)
Bị đơn: Ông Bùi Chí Th, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp 5, xã Th, huyện B, tỉnh Long An.
(Ông Kh có Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông Th vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 16/8/2023 trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Phan Phú Kh trình bày như sau:
Năm 2021, ông Bùi Chí Th có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Bùi Chí Th, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng như sau: Hạn mức sử dụng là: 30.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng cá nhân; Lãi suất thẻ: 2,76 %/tháng;
Phương thức thanh toán: Chủ thẻ sẽ chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền đến hạn và hoặc trước ngày đến hạn như được nêu trong thông báo hàng tháng gửi cho chủ thẻ. Tuy nhiên, chủ thẻ sẽ có quyền chọn lựa thanh toán tổng số tiền đến hạn, số tiền tối thiểu hoặc một khoản tiền trong khoảng giữa của tổng số tiền đến hạn và số tiền tối thiểu để thanh toán cho đơn vị phát hành thẻ.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Bùi Chí Th đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 47.282.719 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Bùi Chí Th đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 6.478.911 đồng thì ngưng không thanh toán. Tính đến ngày 10/8/2023, ông Bùi Chí Th còn nợ số tiền là 47.282.719 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 34.048.082 đồng, nợ lãi là 13.234.637 đồng.
Theo quy định tại mục 24.4 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân thì khi có vi phạm xảy ra Ngân hàng được quyền “Tiến hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ kể cả việc gọi điện thoại/gửi văn bản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào để thông báo về việc vi phạm của Chủ thẻ và yêu cầu hỗ trợ điều tra, xác minh hoặc khởi kiện”. Do ông Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ trước hạn.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Th phải có nghĩa vụ hoàn trả tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 10/8/2023, ông Bùi Chí Th còn nợ là 47.282.719 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 34.048.082 đồng, nợ lãi là 13.234.637 đồng. Yêu cầu ông Th phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 11/8/2023 theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền trên.
2
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ của Ngân hàng; Bảng tính chi tiết tiền lãi; Quyết định ủy quyền; Bản sao chứng minh nhân dân của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn; Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu của bị đơn.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn xác định: Ngoài những chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác để cung cấp và không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ. Đồng thời, xác định không yêu cầu Tòa án triệu tập ai hoặc đưa thêm ai khác vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Chí Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Th luôn vắng mặt không lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, không có yêu cầu phản tố cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu câu khởi kiện của Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Toà án nhân dân huyện B thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân theo pháp luật tố tụng và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; Qua diễn biến phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, thì có đủ cơ sở xác định: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/11/2021 được ký kết giữa Ngân hàng Sacombank và ông Bùi Chí Th được xác lập theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự trên cơ sở tự nguyện, có nội dung phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đây là hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực pháp luật làm căn cứ giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Sacombank đã cấp cho ông Bùi Chí Th Thẻ tín dụng số 970403-9964, hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 15/8/2022 ông Th đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 6.478.911 đồng thì ngưng thanh toán. Hành vi của ông Th đã vi phạm Điều 24 được quy định tại “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S” nên Ngân hàng có quyền chấm dứt sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ, tiến hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ.
Xét thấy, Ngân hàng Sacombank khởi kiện yêu cầu ông Bùi Chí Th có nghĩa vụ hoàn trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 10/8/2023 là 47.282.719
3
đồng, trong đó nợ gốc là 34.048.082 đồng, nợ lãi là 13.234.637 đồng và yêu cầu ông Th chịu lãi phát sinh từ ngày 11/8/2023 theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền trên là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
[1.2]. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Phú Kh có Đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Chí Th đã được Tòa án triệp tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1]. Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 01/11/2021 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Bùi Chí Th được xác lập theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, có nội dung phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử nhận định đây là hợp đồng hợp pháp, là căn cứ để giải quyết về quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Căn cứ vào “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/11/2021” và theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có cơ sở xác định giữa Ngân hàng TMCP S và ông Bùi Chí Th ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với loại thẻ là JCB hạng chuẩn, hạn mức là là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Lãi suất thời điểm mở thẻ là 2,76 %/tháng.
[2.3] Căn cứ bảng sao kê giao dịch số thẻ 970403-9964 của ông Bùi Chí Th thì ông Bùi Chí Th đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 47.282.719 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông Th đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 6.478.911 đồng. Sau đó, ông Th ngưng không thanh toán nữa mặc dù đã được Ngân hàng nhắc nhở nhiều lần. Việc ông Th không thanh toán theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 18, 19 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân, làm cho quyền lợi của Ngân hàng bị xâm phạm. Theo quy định tại mục 24.4 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân thì khi có vi phạm xảy ra Ngân hàng được quyền “Tiến hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ kể cả việc gọi điện thoại/gửi văn bản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào
4
để thông báo về việc vi phạm của Chủ thẻ và yêu cầu hỗ trợ điều tra, xác minh hoặc khởi kiện”. Do ông Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ trước hạn là có căn cứ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Th vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án hoặc văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do Ngân hàng đưa ra. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Th có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 10/8/2023 là 47.282.719 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 34.048.082 đồng, nợ lãi là 13.234.637 đồng.
[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trả lãi phát sinh từ ngày 11/8/2023: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, yêu cầu của nguyên đơn áp dụng tính lãi theo thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng 01/11/2021” từ ngày 11/8/2023 cho đến khi thanh toán xong hết nợ là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Bùi Chí Th phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP S theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 các Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Bùi Chí Th về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Bùi Chí Th có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 10/8/2023 là 47.282.719 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 34.048.082 đồng, nợ lãi là 13.234.637 đồng;
5
Kể từ ngày 11/8/2023, ông Bùi Chí Th còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận quy định tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/11/2021” cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Bùi Chí Th phải chịu 2.364.136 đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng TMCP S là 1.182.068 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010520 ngày 19/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
6
|
Hội thẩm nhân dân |
Chủ tọa phiên tòa |
|
Dương Thị Sáu – Nguyễn Thị Hưởng |
Đặng Thị Nga |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
7
Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sacombank "Tc Hợp đồng tín dụng" Bùi Chí Thiện
