Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-01-2024

V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Đình Ngân;
  2. Ông Lê Văn Lài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Minh Mẫn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Huỳnh Anh Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: tổ C, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Chị Tô Thị Ngọc T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: tổ C, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Anh Q, chị T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10-7-2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – anh Huỳnh Anh Q trình bày:

Anh A và chị Tô Thị Ngọc T chung sống với nhau 2011, có đăng ký kết hôn vào ngày 17-12-2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng có mẫu thuẫn về kinh tế, sau đó chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh nhưng vì các con nên anh khuyên chị T rút đơn về. Anh và chị T ly thân cách nay khoảng 01 năm đến khoảng tháng 4-2023 chị T bỏ nhà đi và không liên lạc gì với anh chỉ thỉnh thoảng mới gọi điện về cho các con.

Nay anh Q cho rằng tình cảm vợ chồng thực sự không còn mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Thanh V, sinh ngày 21-6-2012 và Huỳnh Ngọc Trâm A, sinh ngày 21-8-2015, anh yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn – chị Tô Thị Ngọc T vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị T theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị T vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa chị T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, anh Q vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điệu 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng anh Q, chị T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Anh Q, chị T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 17-12-2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân giữa anh Q và chị T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, tại đơn khởi kiện ngày 11-4-2023, chị T cho rằng quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường hay cãi nhau. Anh Q thì cho rằng vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế gia đình. Khi phát sinh mâu thuẫu anh chị không cùng nhau giải quyết vấn đề mà chị T lại làm đơn ly hôn với anh Q. Từ tháng 11-2022 vợ chồng anh chị ly thân, chị T bỏ nhà đi và cũng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Tuy nhiên, anh chị lại không cùng gắn bó, sống chung với nhau, không quan tâm chăm sóc giúp đỡ nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Q đối với chị T.

[2.3] Về nuôi con chung: Con chung hiện đang sống chung với anh Q và có nguyện vọng sống chung với cha, chị T hiện đang vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ làm công việc gì. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giao hai con chung cho anh Q chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh Q không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[2.6] Về án phí: Anh Huỳnh Anh Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh A Q đối với chị Tô Thị Ngọc T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Huỳnh Anh Q và chị Tô Thị Ngọc T được ly hôn.
  2. Về con chung: Anh Huỳnh Anh Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Huỳnh Ngọc Thanh V, sinh ngày 21-6-2012 và Huỳnh Ngọc Trâm A, sinh ngày 21-8-2015. Chị Tô Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Huỳnh Anh Q không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, chị Tô Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Huỳnh Anh Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền dan phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0018935 ngày 26-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Anh Huỳnh Anh Q đã nộp xong.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHA huyện Châu Thành;
  • - Ủy ban nhân dân xã An Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger