|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HSST Ngày 05 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Minh Hằng; Nghề nghiệp: Nguyên giáo viên Trường THCS Trần Phú, thành phố Hải Phòng.
Ông Nguyễn Văn Thiện; Nghề nghiệp: Cán bộ Ủy ban nhân dân phường Tràng Cát, quận Hải An, Hải Phòng.
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Đoàn Văn Đ, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2005 tại Hải Phòng (khi phạm tội 17 tuổi 10 tháng 25 ngày). Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã T, huyện V,thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn L (đã chết) và bà Lê Thị D; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/7/2023, tạm giam ngày 20/7/2023; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn Đ: Bà Cù Thúy M - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt.
2. Đào Xuân H, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2000 tại Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện nay: Số H đường N, phường Đ,
quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân C và bà Trần Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/7/2023, tạm giam ngày 20/7/2023; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Lò Thị T; vắng mặt.
+ Chị Đoàn Thị K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01h00' ngày 14/7/2023, Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H đang ở phòng ngủ của Đ tại tầng 2 tại địa chỉ: Số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì Đ mang ra 01 gói ma túy Ketamine rủ H sử dụng. H nói để H rủ thêm 02 bạn nữ đến cùng sử dụng ma túy cho vui còn Đ đi mua thêm ma túy về phòng ngủ của H tại tầng 3 nhà số H N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để cả nhóm sử dụng, tiền mua ma túy sẽ chia đôi sau (mỗi người sẽ góp hơn 1.000.000 đồng), Đ đồng ý. Đ một mình điều khiển xe máy Honda Airblade màu đỏ - xám, BKS: 15K1-52166 đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông (không xác định được lai lịch, địa chỉ) 02 gói ma túy Ketamine và 03 viên ma túy “kẹo” (MDMA) với giá 2.600.000 đồng. Còn H ở nhà nhắn tin rủ Lò Thị T, sinh năm 2001; ĐKHKTT: Xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Đoàn Thị K – sinh năm 1998; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình đến sử dụng ma túy, cả hai đồng ý. Đến khoảng 02h00' cùng ngày, Đ mang số ma túy vừa mua được về phòng ngủ của H, để ma tuý trên mặt bàn trong phòng. Lúc này H cũng có mặt trong phòng và bảo Đ đi đón T và K, Đ đồng ý, điều khiển xe máy đi đón, chở T và K về nhà số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng rồi dẫn cả hai lên phòng ngủ của H ở tầng 3. Khi cả 4 người cùng có mặt trong phòng thì H kết nối nhạc bằng điện thoại di động của H với loa trong phòng và bật đèn nháy để cả nhóm chuẩn bị sử dụng ma túy. Đ lấy 02 viên ma túy “kẹo” bẻ làm 04 mảnh, chia cho mỗi người 01 mảnh, sử dụng bằng hình thức nuốt trực tiếp vào cơ thể cùng với nước lọc. Khoảng 20 phút sau, Đ mang 02 gói ma túy Ketamine vừa mua và 01 gói ma túy Ketamine của Đ có trước đó đổ ra đĩa sứ, dùng thẻ nhựa màu đen (thẻ ngân hàng V của Đ) và thẻ Căn cước công dân của H nghiền mịn số ma túy này, kẻ vài đường Ketamine, lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ cuộn lại thành ống hút. Đ dùng ống hút hít một ít ma túy trên đĩa rồi để lại trên mặt bàn kê trong phòng để những người khác tự sử dụng. H, T và K đều sử dụng Ketamine trên đĩa
bằng hình thức dùng ống hút hít ma túy vào cơ thể. Đến khoảng 06h30' cùng ngày, H điều khiển xe máy Honda SH màu trắng BKS: 98M1-29856 chở T về đến khu vực cầu vượt Đ thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị tổ tuần tra Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng yêu cầu dừng phương tiện lập biên bản kiểm tra hành chính và mời về trụ sở Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng làm việc do cả hai đều không đội mũ bảo hiểm và có biểu hiện nghi vấn. Tại đây, H và T khai nhận vừa sử dụng ma túy “kẹo” và K1 tại phòng ngủ của H ở tầng 3 nhà số H N, quận H, thành phố Hải Phòng và hiện tại vẫn còn có người đang sử dụng ma túy trong phòng.
Khoảng 07h10' cùng ngày, tổ công tác Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng kiểm tra địa chỉ trên, bắt quả tang Đoàn Văn Đ và Đoàn Thị K đang sử dụng trái phép chất ma túy và đã đưa Đ và K cùng toàn bộ tang vật thu giữ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng trên bề mặt có tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đào Xuân H, 01 thẻ nhựa màu đen, 03 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm (02 vỏ túi nilon có mép màu xanh, 01 vỏ túi nilon có mép màu đỏ), 01 viên nén màu đen, 01 loa xách tay, 01 đèn nháy và 01 bật lửa gas về trụ sở Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ: 01 xe mô tô Honda Airblade màu đỏ xám, BKS: 15K1-52166 và 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của Đoàn Văn Đ; 01 xe mô tô Honda SH màu trắng, BKS: 98M1-29856 và 01 điện thoại Iphone 13 ProMax màu đen của Đào Xuân H; 01 điện thoại Iphone XS màu vàng của Đoàn Thị K; 01 điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím của Lò Thị T.
Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H, Lò Thị T và Đoàn Thị K bằng test thử tại Phòng K2 - Công an thành phố H ngày 14/7/2023 thể hiện tất cả đều dương tính với chất ma túy loại MDMA và Ketamine.
Tại Bản kết luận giám định số 611 ngày 17/7/2023 của Phòng K2 - C1 kết luận: Tinh thể màu trắng trên 01 đĩa sứ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,26g, loại Ketamine; Tinh thể màu trắng bám dính thẻ căn cước công dân, thẻ nhựa màu đen, tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, trong 03 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên; 01 viên nén màu đen gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44g, loại MDMA.
Tại Bản Cáo trạng số 108/CT-VKSHA ngày 17/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đoàn Văn Đ và Đào
Xuân H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho nhau và cho Lò Thị T, Đoàn Thị K cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
Người làm chứng chị Đoàn Thị K và Lò Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt không có lý do. Chủ tọa đã công bố lời khai của người làm chứng.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; 91; khoản 1 Điều 101; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn Đ với mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Xuân H với mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo; về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 611MT/PC09 của Phòng K2 - Công an thành phố H bên trong có số lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa màu đen; 03 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 đèn nháy màu đen; 01 bật lửa gas; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 loa xách tay màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại Iphone 13 ProMax màu đen của Đào Xuân H là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội; 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; trả lại cho bị cáo Đào Xuân H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đào Xuân H; về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đoàn Văn Đ nhất trí quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng về tội danh điều luật áp dụng đối với bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ
luật Hình sự về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình gây ra. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo có 17 tuổi 10 tháng 25 ngày; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ khai báo thành khẩn. Ngoài ra, bị cáo có ông nội được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 3; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử mức thấp nhất của Viện Kiểm sát đề nghị để xem xét về nguyên tắc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội để giúp họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
+ Về sự vắng mặt của người làm chứng:
[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập người làm chứng chị Đoàn Thị K và Lò Thị T hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt người làm chứng.
- Về tội danh:
[3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, các kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà, đủ cơ sở khẳng định: Từ khoảng 02h00' đến khoảng 07h10' ngày 14/7/2023, tại phòng ngủ của Đào Xuân H ở tầng 3 nhà số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H đã chuẩn bị địa điểm, ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để bản thân các bị cáo và cho Đoàn Thị K và Lò Thị T không phải là người nghiện ma túy cùng sử dụng. Bị cáo Đ và H đã có hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Đoàn Thị K và Lò Thị T. Kiểm tra mẫu nước tiểu của Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H, Lò Thị T và Đoàn Thị K thể hiện đều dương tính với chất ma túy loại MDMA và Ketamine. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và thuộc trường hợp "Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xét vai trò đối với các bị cáo:
[7] Trong vụ án này: Bị cáo Đoàn Văn Đ cung cấp mua ma túy; đón K, và T và là người lấy 02 viên ma túy “kẹo” bẻ làm 04 mảnh chia cho mỗi người 01 mảnh sử dụng bằng hình thức nuốt trực tiếp vào cơ thể cùng với nước lọc; bị cáo Đào Xuân H vai trò tích cực rủ thêm K và T sử dụng địa điểm thuê; kết nối nhạc bằng điện thoại di động của H với loa và bật đèn nháy để cả nhóm cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên giữ vai trò ngang nhau. Do đó, cần áp dụng hình phạt
nghiêm khắc bắt các bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.Tuy nhiên, khi ấn định hình phạt cũng cần xem xét đối với bị cáo Đoàn Văn Đ (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 25 ngày) nên cần áp dụng theo quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Các bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[9] Xét nhân thân các bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H đều chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đoàn Văn Đ có ông nội được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[10] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[11] Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 611MT/PC09 của Phòng K2 - Công an thành phố H bên trong có số lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa màu đen; 03 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 đèn nháy màu đen; 01 bật lửa gas; tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 loa xách tay màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại Iphone 13 ProMax màu đen của Đào Xuân H; 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng công cụ, phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội.
+ Trả lại cho bị cáo Đào Xuân H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đào Xuân H.
[12] Đối với chiếc xe mô tô Honda Airblade màu đỏ xám, BKS: 15K1-52166 chủ sở hữu là bà Lê Thị D là mẹ đẻ của Đoàn Văn Đ. Khi cho Đ mượn bà D không biết Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà Lê Thị D; đối với chiếc xe mô tô Honda SH màu trắng, BKS:
98M1-29856 chủ sở hữu là Đào Xuân H, đang mua trả góp tại Công ty T1, H đã ủy quyền cho ông Đào Xuân C là bố đẻ của H, nhận lại chiếc xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho ông Đào Xuân C; đối với 01 điện thoại Iphone XS màu vàng của Đoàn Thị K và 01 điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím của Lò Thị T Cơ quan điều tra đã trả lại 02 điện thoại trên cho chị Đoàn Thị K và Lò Thị T. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[13] Đối với số ma túy thu giữ còn lại, Đ và K đang sử dụng nhưng chưa sử dụng hết thì bị bắt quả tang. Nên không xử lý các đối tượng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[14] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Văn Đ ngày 10/7/2023 tại phòng ngủ tầng 2 nhà số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Thị T và Đoàn Thị K tại phòng ngủ tầng 3 nhà số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 14/7/2023, Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[15] Đối với bà Phạm Thị L1 là chủ nhà số H đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng không biết việc các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý.
[16] Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho Đoàn Văn Đ tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh có căn cứ xử lý sau.
- Về án phí:
[17] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[18] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; 91; khoản 1 Điều 101; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn Đ 06 năm 06 tháng (sáu năm, sáu tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Xuân H 08 năm (tám năm) tù
về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2023.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 611MT/PC09 của Phòng K2 - Công an thành phố H bên trong có số lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa màu đen; 03 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm;01 đĩa sứ màu trắng; 01 đèn nháy màu đen; 01 bật lửa gas;
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 loa xách tay màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại Iphone 13 ProMax màu đen của Đào Xuân H; 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng là công cụ, phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội.
+ Trả lại cho bị cáo Đào Xuân H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đào Xuân H.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Xuân H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bào chữa của bị cáo Đoàn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 01/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 01/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Đ và Đào Xuân H
