Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-01-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thảo;

Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 321/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ C, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ C, khu phố E, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2023; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyền số 01/2010, ngày 27-02-2010 tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó, bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H.

+ Về con chung: Có ba con chung tên Nguyễn Nhã T1, sinh ngày 18-12-2010, Nguyễn Nhã M, sinh ngày 16/3/2015, Nguyễn Phúc K, sinh ngày 16/10/2019. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng bé Nguyễn Phúc K và giao hai con chung Nguyễn Nhã T1, Nguyễn Nhã M cho ông H nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Thanh H đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và giấy triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng ông H không đến và không nộp văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T, cụ thể như sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
  • + Về con chung: Tại phiên tòa, bà T yêu cầu được nuôi cháu K và giao cháu T1 và M cho ông H nuôi dưỡng, yêu cầu này phù hợp với ý kiến của cháu T1 và M tại bản tự khai nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • + Về cấp dưỡng nuôi con định kỳ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Vấn đề tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H đã được tống đạt hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn Thanh H chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyền số 01/2010, ngày 27-02-2010 tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà T yêu cầu ly hôn với ông H do bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau. Ông H đã được triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng bà T và ông H không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: bà T yêu cầu được nuôi cháu K và giao cháu T1 và M cho ông H nuôi dưỡng, yêu cầu này phù hợp với ý kiến của cháu T1 và M tại bản tự khai. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trên của bà T.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thâm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 92, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 17, 19, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Thanh H.

  • 1.1. Bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
  • 1.2. Về con chung:
    • - Giao con chung tên Nguyễn Phúc K, sinh ngày 16/10/2019 cho bà Nguyễn Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • - Giao con chung tên Nguyễn Nhã T1, sinh ngày 18-12-2010, Nguyễn Nhã M, sinh ngày 16/3/2015 cho ông Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn Thanh H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải nộp số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008074 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Thị Kiều T không phải nộp thêm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Tân Uyên (01);
  • - THADS thành phố Tân Uyên (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: HS, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Mỹ Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T -H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger