Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST.

Ngày: 04-01-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Võ Thanh Đức.

2. Ông Nguyễn Phú Thạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN MINH Đ1 (Tên gọi khác: Chuột S), sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Tổ dân phố H, khu phố A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Sống lang thang tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm: 1977 và bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1980; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/9/2015, bị Công an thị xã L xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 05/QĐ/XPKLBB; Ngày 06/12/2017, bị Công an thị xã L xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 0013401; Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm: 2000; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 25/9/2023, Nguyễn Minh Đ1, sinh năm: 2001 đi lang thang tại khu vực Cảng cá L thuộc khu phố B, phường P, thị xã L thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu AirBlade màu đỏ đen bạc, BKS: 86B6-020.43 của ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm: 2000 đang dựng trước cửa phụ Công ty H. Đ1 quan sát trên xe có cắm sẵn chìa khóa, xung quanh không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định này, Đ1 lén lút đi vào dắt trộm xe mô tô ra rồi điều khiển xe đến khu vực Nghĩa trang thị xã L thuộc khu phố H, phường T, thị xã L để cất giấu. Sau khi phát hiện xe mô tô BKS: 86B6-020.43 bị mất, ông Huỳnh Ngọc T1 đã trình báo đến chính quyền địa phương. Đối với Nguyễn Minh Đ1 sau khi lấy trộm được xe mô tô, Đ1 tháo biển số 86B6-020.43 vứt xuống sông D tại khu vực cầu T thuộc phường P, thị xã L để tránh bị phát hiện. Đến ngày 04/10/2023, do không tìm được nơi tiêu thụ và lo sợ bị phát hiện nên Nguyễn Minh Đ1 đã đem xe đến Công an thị xã L giao nộp và đầu thú, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã tạm giữ xe mô tô để xử lý, đồng thời truy tìm biển số xe 86B6-020.43 nhưng không thu giữ được.

Ngày 09/10/2023, tại bản Kết luận định giá tài sản số 74/KL-ĐGTS của Hội đồng định gái tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:

- 01 xe mô tô hiệu Honda loại AirBlade màu đỏ đen bạc, dung tích 108, số máy F27E-0729849, số khung 2703BY025306, BKS: 86B6-020.43, đăng ký lần đầu ngày 25/5/2011, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 6.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá 6.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án gồm: 01 xe mô tô hiệu AirBlade màu đỏ đen bạc đã trả cho bị hại Huỳnh Ngọc T1 vào ngày 03/11/2023.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSLG-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Đ1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Đ1 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp, ông Huỳnh Ngọc T1 không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu AirBlade màu đỏ đen bạc đã trả cho bị hại Huỳnh Ngọc T1 vào ngày 03/11/2023 nên đề nghị không xét.

Tại phiên tòa bị cáo Đ1 xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tung: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Xét thấy bị hại vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 25/9/2023, tại trước cửa phụ Công ty H tại Cảng cá L thuộc khu phố B, phường P, thị xã L, Nguyễn Minh Đ1 có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô BKS: 86B6-020.43 trị giá 6.500.000 đồng của ông Huỳnh Ngọc T1. Sau đó, do không tiêu thụ được xe và lo sợ bị phát hiện nên đến ngày 04/10/2023, Nguyễn Minh đ đã mang xe mô tô trên đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để giao nộp và đầu thú hành vi phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo Đ1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải bằng còn đường lao động chân chính nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình (Đầu thú) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp, anh Huỳnh Ngọc T1 không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu AirBlade màu đỏ đen bạc đã trả cho bị hại Huỳnh Ngọc T1 vào ngày 03/11/2023 nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Đ1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 04/10/2023.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/01/2024); Của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản ”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 04/10/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger