TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-01-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Hữu Lợi
Bà Trịnh Thị Lệ Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 334/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Anh T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số E P, xã A, thành phố T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- - Bị đơn: Ông Dương Tấn K, sinh năm 1986
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
Nơi ở hiện nay: Số E P, xã A, thành phố T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 17 tháng 4 năm 2023 và các bảng tự khai nội dung sự việc tại Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Anh T trình bày: bà và ông Dương Tấn K kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2011. Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, vợ chồng nhiều lần tranh cãi nên vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Dương Tấn K.
Về con chung: có 02 con chung tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013, bà không yêu cầu ông Dương Tấn K cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Bị đơn ông Dương Tấn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cho rằng:
Về tố tụng: Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông K.
Về con chung: Xét thấy ông K vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có lời khai thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Các con chung tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013 hiện đang sống chung với bà T. Đồng thời, hai cháu Dương Tấn K1 và Dương Yến N đều có nguyện vọng mong muốn được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mọi mặt của con chung nên giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Dương Tấn K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Võ Thị Anh T không có yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Anh T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Bà Võ Thị Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vào ngày 05/10/2023 Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An có thụ lý đơn khởi kiện của bà Võ Thị Anh T yêu cầu được ly hôn với ông Dương Tấn K làm phát sinh vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Dương Tấn K có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Long An nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
[2] Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Anh T và ông Dương Tấn K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 9 năm 2011. Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Sau khi kết hôn, bà T và ông K chung sống hạnh phúc được thời gian đầu và có 02 con chung. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, vợ chồng nhiều lần tranh cãi nên vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay. Bà T không còn hạnh phúc khi chung sống với ông K, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi thụ lý vụ án, ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện việc bà T xin ly hôn nhưng ông K không có ý kiến là đã thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ với bà T. Vì vậy, xét thấy: quan hệ tình cảm giữa bà T và ông K không còn, tình trạng vợ chồng giữa hai người đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa. Xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông K là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông K có hai con chung tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013. Các con chung hiện nay đang sống chung với bà T và do bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa thành niên tên Dương Tấn K1 và Dương Yến N, không yêu cầu ông Dương Tấn K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, hai cháu Dương Tấn K1 và Dương Yến N hiện đang sống chung với bà T, được chăm sóc chu đáo, phát triển ổn định về mọi mặt. Đồng thời, hai cháu Dương Tấn K1 và Dương Yến N đều có nguyện vọng mong muốn được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mọi mặt của con chung, tránh thay đổi về môi trường sống và học tập của hai cháu Dương Tấn K1 và Dương Yến N, nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T là phù hợp và có căn cứ tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Anh T, giao hai con chung chưa thành niên tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013 cho bà Võ Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Anh T tự nguyện không yêu cầu ông Dương Tấn K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét đề cập.
Trong trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Bà Võ Thị Anh T và ông Dương Tấn K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên bản án không đề cập đến.
[6] Về nợ chung: Bà Võ Thị Anh T và ông Dương Tấn K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên bản án không đề cập đến.
[7] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bà Võ Thị Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Anh T, cho bà Võ Thị Anh T được ly hôn với ông Dương Tấn K.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung chưa thành niên tên Dương Tấn K1, sinh ngày 29/9/2011 và Dương Yến N, sinh ngày 17/7/2013 cho bà Võ Thị Anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Dương Tấn K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Võ Thị Anh T không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Võ Thị Anh T phải có nghĩa vụ chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Võ Thị Anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021702 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Lệ Hoa | Trần Thị Hằng Nga | Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
