Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Đông
  2. Ông Nguyễn Văn Sở

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Tuyết Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Bích Hường, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Trong các ngày 28/12/2023 và 04/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/HSST ngày 09/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/HSST – QĐ ngày 20/11/2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành T, sinh năm 2000 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số B H, ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N (còn sống) và bà Trần Thị Mộng H (còn sống); chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 26/11/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; có mặt.

  2. Đinh Hoàng T1, sinh năm 1989 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A ấp V, xã M, huyện T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số A ấp V, xã M, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L (còn sống) và bà Dương Thị P (còn sống); có vợ tên Võ Thị Quế H1 (đã ly hôn), 01 con sinh 2013; tiền án: ngày 25/3/2014 bị TAND tỉnh Long An phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong phần hình phạt bổ sung; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 26/11/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; có mặt.

  3. Nguyễn Quốc V, sinh năm 2001 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số D ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Hồng G (còn sống); chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 26/11/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; có mặt.

  4. Châu Thanh P1, sinh năm 1999 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số A H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Minh T3 (đã chết) và bà Châu Thị Phương O (còn sống); chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/02/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; có mặt.

  5. Võ Minh T4, sinh năm 1997 tại Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Anh M(còn sống) và bà Võ Thị Ngọc H2 (còn sống); chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/02/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

  • Luật sư Nguyễn Anh T5 luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Anh T5 thuộc Đoàn luật sư L2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T.

  • Luật sư Trịnh Thị K luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư L2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 2000; nơi cư trú: số I H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  2. Ông Lê Tất T6, sinh năm 1999; nơi cư trú: số B N, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  3. Võ Mạnh Quỳnh N1, sinh năm 1999; nơi cư trú: số A Quốc lộ A, Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An, vắng mặt.

  4. Phạm Thị T7, sinh năm 1966; nơi cư trú: số A Quốc lộ A, Khu phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An, vắng mặt.

  5. Ông Đinh Văn L, sinh năm 1964; nơi cư trú: số A ấp V, xã M, huyện T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  6. Ông Dương K1, sinh năm 2000; nơi cư trú: số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  7. Phạm Thị N2, sinh năm 1963; nơi cư trú: số B đường số A, KDC đầu tư xây dựng giai đoạn A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  8. Ông Phạm Văn T8, sinh năm 2001; nơi cư trú: số B đường số A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

  9. Nguyễn Thị Cẩm T9, sinh năm 1995; nơi cư trú: số B ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Nguyễn Thành Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 19/11/2022 bị cáo Nguyễn Quốc V, bị cáo Nguyễn Thành T, bị cáo Đinh Hoàng T1Nguyễn Thành Đ nhậu chung với nhau ở quán S (thuộc Phường B, thành phố T, tỉnh Long An). Trong lúc nhậu, bị cáo T rủ bị cáo V và bị cáo T1 mua ma túy về sử dụng thì VT1 đồng ý. Các bị cáo thống nhất với nhau mỗi người hùn 1.000.000đ để mua chất ma túy sử dụng và trả cho những chi phí phát sinh. Tuy nhiên, bị cáo V và bị cáo T1 hết tiền nên nhờ bị cáo T ứng tiền ra trả trước sau đó sẽ trả lại tiền cho bị cáo T. Nguyễn Thành Đ không biết việc các bị cáo rủ nhau đi sử dụng ma túy nên sau khi tiệc nhậu kết thúc Nguyễn Thành Đ ra về. Bị cáo V chạy đến quán N3 (là nơi bị cáo V làm thuê, gần chợ Phường B, thành phố T, tỉnh Long An) để dọn dẹp quán còn bị cáo T và bị cáo T1 chạy xe môtô đến trước Bưu điện tỉnh L chờ bị cáo V. Bị cáo T hỏi bị cáo T1 đã liên hệ mua chất ma túy chưa, bị cáo T1 trả lời là đã gọi rồi. Bị cáo T chạy xe đến quán N3 để rước bị cáo V và thuê loa đèn để sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng lúc đó, tại trước Bưu điện tỉnh Long An, bị cáo T1 không liên lạc bằng điện thoại mà trực tiếp gặp một người thanh niên chạy xe taxi màu vàng đang đậu gần đó, hỏi mua 03 con kẹo và 1 chấm khay (03 viên ma túy và 01 gam Ketamine). Người bán ma túy chạy xe đi lấy chất ma túy, còn bị cáo T1 thì đứng đợi. Về phía bị cáo T sau khi chạy xe đến quán N3 rước bị cáo V, trên đường ra Bưu điện tỉnh Long An đã ghé nhà Dương K1 để bị cáo V thuê loa đèn. Khoảng 10 phút sau người bán chất ma túy trở lại, cùng lúc đó thì bị cáo V và bị cáo T cũng chạy xe và mang theo loa đèn đến. Khi gặp nhau thì lúc đó trời mưa nên bị cáo V ôm loa đèn lên xe taxi của người bán ma túy ngồi ở ghế sau. Lúc này bị cáo T và bị cáo T1 đứng dưới lề đường, bị cáo T đưa cho người bán chất ma túy số tiền 2.000.000 đồng, người bán chất ma túy đưa lại cho bị cáo T1 01 gói giấy bên trong có: 01 gói nylon chứa 03 viên nén, 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng. Bị cáo T1 nhận gói giấy chứa chất ma túy rồi cầm trên tay đi ra cửa phía sau xe taxi đưa cho bị cáo V giữ chất ma túy. Sau đó, bị cáo T và bị cáo T1 mỗi người chạy 01 xe môtô, còn bị cáo V đi xe taxi đến khách sạn M1 6 nhưng hết phòng nên cả nhóm 03 người đến khách sạn G1 ở địa chỉ số B đường số A, khu dân cư đầu tư xây dựng giai đoạn A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Khi đến nơi, bị cáo T1 vào thuê phòng 201 và cùng với bị cáo T đi lên phòng trước còn bị cáo V xách loa đèn và gói giấy chứa ma túy lên sau.

Khi vào phòng, bị cáo T nằm trên giường bấm điện thoại và gọi cho bị cáo Châu Thanh P1 rủ đến phòng 201 của khách sạn G1 để sử dụng ma túy thì bị cáo P1 đồng ý. Lúc này, bị cáo T1 và bị cáo Vương ráp loa đèn và mở nhạc, bị cáo V bỏ gói giấy chứa ma túy ra bàn gỗ. Khoảng 10 phút sau bị cáo P1 đến đưa cho bị cáo T mượn cục sạc điện thoại. Sau đó bị cáo P1 đi xuống nhà bếp của khách sạn lấy 01 dĩa sứ màu trắng đem lên phòng 201 bỏ lên giường. Bị cáo T1 dùng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại, gắn vào đầu lọc điếu thuốc lá làm ống hút. Bị cáo V cầm lấy dĩa sứ và 01 gói ma túy dạng tinh thể đổ ra dĩa hơ nóng, sử dụng giấy phép lái xe hạng B2 của bị cáo T1 cà nhuyễn chất ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng. Sau khi cả nhóm sử dụng một lượt, bị cáo P1 gọi điện thoại rủ Nguyễn Thị Ngọc H3 đến sử dụng ma túy, H3 đồng ý và đi xe taxi đến khách sạn G1. Khi H3 đi lên cầu thang gần đến cửa phòng thì bị cáo P1 đi ra đón. Khi vào phòng, bị cáo P1 cầm dĩa ma túy cho H3 sử dụng, H3 sử dụng một lượt thì đến ngồi cạnh bị cáo P1. Sau đó H3 có đưa cho bị cáo V một thẻ nhựa màu đen để bị cáo V dùng cà nhuyễn chất ma túy cho cả nhóm sử dụng. Lúc này, bị cáo P1 hỏi H3 có quen với bạn nữ nào không gọi tới chơi, mục đích phục vụ cho những người trong phòng. H3 gọi cho 02 người phụ nữ có tên là “cô Ú” và “Thỏ” quen trong thời gian làm tiếp viên quán karaoke (bản thân H3 không biết tên thật và địa chỉ của 02 người trên). Khoảng 40 phút sau, hai người phụ nữ tên cô Ú và T10 tới phòng 201 và có sử dụng ma túy chung cả nhóm. Bị cáo T cũng nhắn tin cho bị cáo Võ Minh T4 đến khách sạn G1 sử dụng ma túy. Lúc này bị cáo Minh T4 đang nhậu ở thị trấn B cùng Lê Tất T6 thấy tin nhắn của T, bị cáo Minh T4 liền rủ T6 cùng đi sử dụng ma túy, T6 đồng ý và dùng xe môtô chở bị cáo Minh T4 đến khách sạn G1. Khi vào phòng 201 thì Minh T4T6 ngồi sử dụng ma túy chung với cả nhóm của T. Sử dụng đến khoảng 07 giờ ngày 19/11/2022 cả nhóm nghỉ. Lúc này trong dĩa sứ vẫn còn chất ma túy để trên bàn gỗ và còn 01 (một) viên nén màu xám, 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày thì hai người phụ nữ tên cô Ú và T10 ra về trước. Sau đó, bị cáo T thức dậy đi vào nhà vệ sinh rồi quay trở ra lấy áo mặc vào cùng bị cáo Hoàng T1 đi xuống quầy tiếp tân của khách sạn đồng thời bị cáo T và bị cáo Hoàng T1 kêu bị cáo V thu giữ số ma túy còn dư lại đem về. Lúc này, bị cáo V dọn dụng cụ sử dụng chất ma túy, loa đèn và chất ma túy còn lại chưa sử dụng hết bỏ vào thùng giấy rồi bị cáo V xách ra khỏi phòng nói với bị cáo Hoàng T1 là “còn đồ dư nè” và bị cáo Hoàng T1 nói: “giữ đó đi, chút về anh em mình chia".

Khi cả nhóm 07 người gồm: bị cáo T, bị cáo Hoàng T1, bị cáo V, bị cáo P1, bị cáo Minh T4, H3T6 vừa bước xuống sảnh tiếp tân để trả phòng thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra bắt giữ. Tiến hành kiểm tra lực lượng Công an phát hiện trong thùng giấy mà bị cáo V đang cầm trên tay có 01(một) gói nylon màu trắng có sọc màu đỏ chứa 01 (một) viên nén màu xám không rõ hình dạng; 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu đỏ chứa tinh thể màu trắng bên trong; trên dĩa sứ có chất bột màu trắng (đây là chất ma túy các đối tượng sử dụng còn dư lại), 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 (một) thẻ nhựa màu đen. Kiểm tra phòng 201 lực lượng Công an phát hiện bên trong phòng vị trí giữa hai giường dưới nền gạch có 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu xanh hoa văn mặt cười bên trong rỗng. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.

*Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu đỏ chứa 01 (một) viên nén màu xám không rõ hình dạng được niêm phong, ký hiệu: A1, có chữ ký của Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1Nguyễn Thị Cẩm T9.

  • 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu đỏ chứa tinh thể màu trắng được niêm phong, ký hiệu: A2, có chữ ký của Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1Nguyễn Thị Cẩm T9.

  • Chất bột màu trắng thu được trên dĩa sứ được niêm phong, ký hiệu: A3, có chữ ký của Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1Nguyễn Thị Cẩm T9.

  • 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu xanh hoa văn mặt cười bên trong rỗng.

  • 01 (một) dĩa sứ màu trắng, hình tròn.

  • 01 (một) ống hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) cuộn lại gắn vào đầu lọc thuốc lá.

  • 01 (một) thẻ nhựa màu đen.

  • 01 (một) mảnh khăn giấy màu trắng.

  • 02 (hai) hộp quẹt gas (01 màu xanh và 01 màu đỏ).

  • 02 (hai) cái loa màu đen.

  • 01 (một) đèn chiếu laser.

  • 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Đinh Hoàng T1 – Hạng B2.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng.

  • 01 (một) xe mô tô hiệu SH MODE, màu trắng đen, biển số 62N1 - 517.73.

  • 01 (một) xe mô tô hiệu FUTURE, màu đỏ nâu đen, biển số 62G1 - 439.87.

* Tại Bản kết luận giám định 1082/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận như sau:

  • + Gói nylon ký hiệu “A1”: 01 (một) viên nén màu xám không rõ hình dạng đựng trong 01 (một) gói nylon màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3980 gam, loại: MDMA.

  • + Gói nylon ký hiệu “A2”: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8191 gam, loại: Ketamine.

  • + Gói nylon ký hiệu “A3”: Chất bột màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2072 gam, loại: Ketamine.

* Bản cáo trạng số 55/CT-VKSTPTA ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo bị cáo Châu Thanh P1Võ Minh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1Võ Minh T4 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo bị cáo Châu Thanh P1Võ Minh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:

    • Bị cáo Nguyễn Thành T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    • Bị cáo Nguyễn Quốc V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:

    • Bị cáo Đinh Hoàng T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:

    • Bị cáo Châu Thanh P1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    • Bị cáo Võ Minh T4 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Bài bào chữa của luật sư Nguyễn Anh T5 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T có nội dung như sau: bị cáo phạm tội với tính chất giản đơn, chỉ phục vụ cho nhu cầu cá nhân nhưng do không am hiểu pháp luật nên rủ bạn bè đến sử dụng chung mục đích để vui chơi. Sau khi phạm tội, bị cáo đã hối hận nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện vận động gia đình ủng hộ các quỹ xã hội tại địa phương như quỹ khuyến học, giúp đỡ gia đình neo đơn. Nhận thấy, bị cáo đã biết sai biết sửa, có nhiều tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hạ khung hình phạt, hưởng hình phạt thấp nhất theo quy định.

* Bài bào chữa của luật sư Trịnh Thị K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc V có nội dung như sau: cáo trạng truy tố đối với hành vi của bị cáo là đúng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị bắt giữ bị cáo đã tự thú đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra gia đình của bị cáo có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhận thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

* Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra cụ thể: Vào lúc 7h ngày 19/11/2022 các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1, Võ Minh T4 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Lê Tất T6Nguyễn Thị Ngọc H3 ở phòng 201 khách sạn G1, số B đường số A, khu dân cư đầu tư giai đoạn A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy gồm 0,3980 gam loại MDMA và 1,0263 gam loại Ketamine của các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V tàng trữ để sử dụng.

[3] Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1, Võ Minh T4 là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V đã có hành vi cố ý thuê địa điểm, cung cấp tiền, cung cấp ma túy. Các bị cáo Châu Thanh P1, Võ Minh T4 giúp sức rủ rê và đưa ma tuý vào cơ thể của Lê Tất T6Nguyễn Thị Ngọc H3.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

Các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V còn cất giữ số ma túy có khối lượng: 2,9341 gam, loại Ketamine và 1,3228 gam, loại MDMA với mục đích là để sử dụng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[5] Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo bị cáo Châu Thanh P1Võ Minh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[6] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đinh Hoàng T1 có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1, Võ Minh T4 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thành T có vận động gia đình tích cực đóng góp xây các quỹ xã hội tại địa phương, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; gia đình bị cáo Nguyễn Quốc V có công cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Đánh giá tính chất vụ án: các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi đó không những xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hủy hoại sức khỏe của con người, là nguy cơ làm gia tăng các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị tại địa phương.

[8] Về hình phạt: Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy với tính chất của loại tội phạm về ma túy, mức độ thực hiện hành vi của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù để có thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ mức độ đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ. Tuy nhiên, cũng cần xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo để có hình phạt tương ứng:

Đối với bị cáo Nguyễn Thành T là người đóng vai trò tích cực nhất rủ rê tổ chức sử dụng ma túy. Các bị cáo Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V chủ động thuê địa điểm, chuẩn bị ma túy nên phải chịu trách nhiệm chính. Các bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Quốc V còn có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Đinh Hoàng T1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên phải chịu trách nhiệm nặng hơn.

Đối với các bị cáo Châu Thanh P1Võ Minh T4 là đồng phạm giúp sức rủ rê các đối tượng khác đến sử dụng ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo mới phạm tội lần đầu nên cho các bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét, các bị cáo tổ chức sử dụng và tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Về tang vật vụ án:

  • 01 (một) xe môtô hiệu Honda SH MODE, màu trắng đen, biển số 62N1 - 517.73 qua xác minh xác định chủ sở hữu là bà Phan Thị T11. Bà Phan Thị T11 giao xe mô tô biển số 62N1 - 517.73 cho con gái ruột là chị Võ Mạnh Quỳnh N1 sử dụng. Vào ngày 18/11/2022, bị cáo Nguyễn Thành T mượn xe của chị N1 nhưng chị N1 không biết bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện đi đến điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 62N1 - 517.73 cho chủ sở hữu là phù hợp.

  • 01 (một) xe môtô hiệu Honda FUTURE FI, màu đỏ nâu đen, biển số 62G1 - 439.87 qua xác minh xác định chủ sở hữu là ông Đinh Văn L (cha ruột của bị cáo Đinh Hoàng T1). Vào ngày 17/11/2022 bị cáo Đinh Hoàng T1 có mượn xe mô tô của cha ruột là ông Đinh Văn L để chở bạn gái đi chơi nhưng sau đó đã đi sử dụng ma túy. Ông L không chỉ biết bị cáo T1 sử dụng xe làm phương tiện đi đến điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 62N1 - 517.73 cho chủ sở hữu là phù hợp.

Các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm:

  • 01 (một) bì thư được niêm phong nguyên vẹn số 1082, ngày 25/11/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh L, có các chữ ký ghi họ tên Lê Hồng H4 (người chứng kiến) và Nguyễn Phước L1 (người niêm phong) và hình dấu tròn màu đỏ, trong đó có: tất cả các mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong.

  • 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu xanh hoa văn mặt cười bên trong rỗng.

  • 01 (một) dĩa sứ màu trắng, hình tròn.

  • 01 (một) ống hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) cuộn lại gắng vào đầu lọc thuốc lá.

  • 01 (một) thẻ nhựa màu đen.

  • 01 (một) mảnh khăn giấy màu trắng.

  • 02 (hai) hộp quẹt gas (01 màu xanh và 01 màu đỏ).

Giao trả đồ vật cho chủ sở hữu:

  • 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Đinh Hoàng T1 – Hạng B2.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, màu trắng của bị cáo Nguyễn Thành T.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng của bị cáo Võ Minh T4.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu vàng của bị cáo Châu Thanh P1.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS-HS ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.)

[11] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[12] Nội dung khác:

Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Hoàng T1Nguyễn Thành T khai mua ma túy của người thanh niên lái xe taxi màu vàng. Tuy nhiên các bị cáo không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc H3Lê Tất T6 là người được rủ đến sử dụng chất ma túy nhưng không có tham gia bàn bạc, không hùn tiền đi mua ma túy nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Ngọc H3Lê Tất T6 đã vi phạm Khoản 1, Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với hai người phụ nữ tên cô Ú và T10 mà bị cáo Châu Thanh P1 nhờ Nguyễn Thị Ngọc H3 kêu lại mục đích để phục vụ những người trong phòng sau đó có sử dụng ma túy chung với các bị cáo, do không xác định nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Ngọc H3 là phù hợp.

Về phía chủ cơ sở kinh doanh khách sạn G1 là bà Phạm Thị N2 thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý kiểm tra để xảy ra tệ nạn sử dụng ma túy trong cơ sở kinh doanh đã vi phạm Điểm a, Khoản 4, Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ cơ sở kinh doanh là phù hợp.

[13] Lời bào chữa của luật sư Nguyễn Anh T5 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T xác định các tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Thành T là có cơ sở nên ghi nhận. Tuy nhiên, xét hành vi, tính chất của loại tội pham về ma túy và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Thành T chưa đủ cơ sở áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự.

[14] Lời bào chữa của luật sư Trịnh Thị K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc V về việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình của bị cáo có công với cách mạng là tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có cơ sở nên ghi nhận. Tuy nhiên, việc bị cáo khai nhận đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi đã bị cơ quan chức năng phát hiện nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1, Võ Minh T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành T là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc V là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2022.

3. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bị cáo Đinh Hoàng T1 là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2022.

4. Áp dụng b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Châu Thanh P1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023.

Xử phạt bị cáo Võ Minh T4 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/02/2023.

5. Áp dụng điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Thành T, Đinh Hoàng T1, Nguyễn Quốc V, Châu Thanh P1, Võ Minh T4 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

6. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) bì thư được niêm phong nguyên vẹn số 1082, ngày 25/11/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh L, có các chữ ký ghi họ tên Lê Hồng H4 (người chứng kiến) và Nguyễn Phước L1 (người niêm phong) và hình dấu tròn màu đỏ, trong đó có: tất cả các mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao đựng mẫu giám định được đóng gói niêm phong.

  • 01 (một) gói nylon màu trắng có sọc màu xanh hoa văn mặt cười bên trong rỗng.

  • 01 (một) dĩa sứ màu trắng, hình tròn.

  • 01 (một) ống hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) cuộn lại gắng vào đầu lọc thuốc lá.

  • 01 (một) thẻ nhựa màu đen.

  • 01 (một) mảnh khăn giấy màu trắng.

  • 02 (hai) hộp quẹt gas (01 màu xanh và 01 màu đỏ).

Giao trả 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Đinh Hoàng T1 – Hạng B2 cho bị cáo Đinh Hoàng T1.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, màu trắng của bị cáo Nguyễn Thành T.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng của bị cáo Võ Minh T4.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu vàng của bị cáo Châu Thanh P1.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS-HS ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.)

7. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

- TAND Tỉnh;

- VKSND tỉnh;

- VKSND TpTA;

- Công an TpTA;

- Bị cáo;

- THA, AV, Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T và ĐB tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger