|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 04-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Bình và Ông Lê Hải Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại Trung tâm văn hóa thể thao phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 3 năm 1978, tại Huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện tại: TDP H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T1 và bà: Phạm Thị L; có vợ: Phùng Thị M; Sinh năm: 1979; Con: 02 con; Con lớn sinh năm: 2000, con nhỏ sinh năm: 2009; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S từ ngày 17/9/2023 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị M, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Dương Văn C, sinh năm 1991; Trú tại: Tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút ngày 17/9/2023, tổ công tác thuộc Đội điều tra tổng hợp Công an thành phố S tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực đường Cách mạng tháng mười đoạn qua TDP C, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện đối tượng Trần Văn T (sinh năm: 1978, trú tại: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát: 97F3 – 1287 có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác tiến hành dừng xe kiểm tra hành chính đối với T. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi áo ngực bên phải phía trước T đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, tại túi quần bên trái phía trước đang mặc phát hiện 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, T khai nhận chất bột trong 02 gói giấy trên là ma túy loại Heroine do T mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa T về trụ sở Công an phường B để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 97F3 – 1287, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J8 màu đen đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 1142/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là: 0,068 gam; Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là: 0,173 gam.
Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Bản thân tôi nghiện ma túy loại Heroine từ khoảng năm 2013 đến nay bằng hình thức hít. Khoảng 15h30 ngày 17/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tôi đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 97F3 – 1287 đi từ phòng trọ thuộc TDP H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực ngã tư khu công nghiệp S với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, đến nơi tôi dừng xe ở lề đường thì có một người nam thanh niên (khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang mặc áo phông màu đen, quần ngố đi đến hỏi tôi “làm tý à” tôi hiểu ý người này là hỏi mua ma túy không nên tôi trả lời “ừ”, người này hỏi “lấy bao nhiêu” thì tôi trả lời “lấy hai trăm trắng” ý tôi là mua 200.000đ tiền ma túy loại Heroine rồi tôi đưa cho người đàn ông trên 200.000đ, người này nói với tôi “đợi một tý”. Khoảng 5 phút sau người này quay lại đưa cho tôi 2 gói giấy màu trắng tôi biết là ma túy nên không kiểm tra ma đút 01 gói vào túi áo ngực bên phải phía trước và 01 gói vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực đường cách mạng tháng Mười thuộc phường B, thành phố S tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an thành phố S kiểm tra phát hiện thu giữ 02 gói ma túy như nêu trên. Ngoài ra còn tạm giữ của tôi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 97F3 – 1287, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J8.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,053 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong chứa 0,160 gam mẫu B1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu B1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 bì niêm phong ký hiệu B và 02 gói màu trắng; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu đen; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 97F3 – 1287, đã qua sử dụng được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 84/ CT-VKS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,053 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,160 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu B1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu B và 02 gói giấy màu trắng;
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu đen. Trả cho bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 97F3 – 1287, đã qua sử dụng Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 17/9/2023, tại đường Cách mạng tháng Mười thuộc địa phận TDP C, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc Đội điều tra tổng hợp Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[7] Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị cần tịch thu, tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu đen bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 97F3 – 1287 tại phiên tòa cả bị cáo và vợ bị cáo là chị Phùng Thị M đều xác định là tài sản chung của vợ chồng, dùng trong sinh hoạt gia đình. Chị M đề nghị được nhận lại tài sản để có phương tiện đi lại. Xét thấy có căn cứ để trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trần Văn T, do T không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy cho mình nên Cơ quan điều tra Công an thành phố S không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2023.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,053 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1;
- - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,160 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu B1;
- - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A, 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu B và 02 gói giấy màu trắng;
* Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu đen, đã qua sử dụng đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu A4;
* Trả cho bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 97F3 – 1287, đã qua sử dụng, số máy HC08E0274801; số khung: RLHHC08062Y274791.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2023 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ăn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Xử phạt: Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
