Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-01-2024

V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hậu và ông Trần Hùng Bích.

Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 673/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 595/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: Ấp N, xã B, huyện T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang

NHẬN THẤY:

Theo nội dung vụ án thể hiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016. Nay yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 17/01/2015 và Nguyễn Văn T2, sinh ngày 20/01/2012, hiện cháu T2 đang sống chung với ông T, cháu T1 đang sống chung với bà L. Bà L đồng ý giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con, do mỗi người nuôi một con chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56 và Điều 81, Điều Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 17/01/2015 và Nguyễn Văn T2, sinh ngày 20/01/2012, hiện cháu T2 đang sống chung với ông T, cháu T1 đang sống chung với bà L. Đề nghị giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Căn cước công dân Nguyễn Thị L, Giấy khai sinh T2 và T1, Giấy chứng nhận kết hôn của L và T....

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T, bà L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2016 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông T vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà L tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà ly thân đã lâu, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà L yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 17/01/2015 và Nguyễn Văn T2, sinh ngày 20/01/2012, hiện cháu T2 đang sống chung với ông T, cháu T1 đang sống chung với bà L. Bà L đồng ý giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1.

Xét, từ khi ly thân đến nay bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và còn cháu T2 thì do ông T trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của hai cháu, tạo điều kiện cho hai cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T2 cho ông T được quyền trực

tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu T1 cho bà L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc nuôi con là không cố định.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 17/01/2015 và Nguyễn Văn T2, sinh ngày 20/01/2012. Hiện cháu T2 đang sống cùng với ông T, còn cháu T1 đang sống cùng với bà L.

2.1. Giao con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 17/01/2015 cho bà bà Nguyễn Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Giao con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh ngày 20/01/2012 ông Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc nuôi con là không cố định.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002605 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - UBND xã Mỹ Hòa Hưng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tấn Hậu

TRần Hùng Bích

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L được ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger