Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-PT

Ngày 04-01-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Thu Phương.

Ông Phan Trịnh Minh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2023/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án sơ thẩm số 24/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5840/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Ngọc Đ, sinh năm 1963. (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số A N, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1958. (có mặt)
  4. Địa chỉ: Số A N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ liên lạc: Số D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người kháng cáo: Bị đơn – Ông Nguyễn Chí N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, tường trình và các biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc Đ trình bày như sau:

Bà và ông N1 Chí Nghiệp tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, nay là Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105 cấp ngày 15/10/1985. Trong thời gian chung sống có hai con chung là Nguyễn Vũ Anh K, sinh năm 1987 và Nguyễn Vũ Xuân K1, sinh năm 1999.

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống không còn thống nhất, hai bên thường xuyên mâu thuẫn, đến năm 2018 bà và ông N2 ly thân. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà yêu cầu ly hôn.

Con chung có hai người như trên đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung bà không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Chí N trình bày như sau:

Việc chung sống và đăng ký kết hôn đúng như bà Đ trình bày nêu trên. Con chung có hai người như bà Đ trình bày đã trưởng thành. Tài sản chung ông không có yêu cầu giải quyết.

Về mâu thuẫn trong hôn nhân giữa ông và bà Đ1 là không có gì trầm trọng. Vào tháng 4/2018 khi ông nghỉ hưu, ông khám bệnh và phát hiện bị bệnh ung thư hạch bạch huyết, nên ông về nhà người em gái tại số D đường L, Phường A, Quận C ở để tiện chữa trị, hàng ngày ông thường xuyên qua lại nhà gặp vợ và hai con, gia đình không có mâu thuẫn, việc bà Đ nộp đơn xin ly hôn ông quá bất ngờ, nên không đồng ý.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khỏa 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc Đ.
  2. Về quan hệ hôn nhân:Vũ Thị Ngọc Đ được ly hôn với ông Nguyễn Chí N.

    Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 30/01/1987, và Nguyễn Vũ Xuân K1, sinh ngày 14/01/1999. Cả hai đã trưởng thành.

    Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Nguyên dơn bà Vũ Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên bà Đ là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí, nên bà không phải nộp án phí.

    H lại tiền tạm nộp án phíĐ đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 008329, ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án theo luật định. Ngày 10/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Chí N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu được đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc Đ trình bày:

Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm bác đơn để vợ chồng trở về đoàn tụ thì bà cũng không đồng ý trở về tiếp tục chung sống với ông N, do mâu thuẫn đã tích tụ trong nhiều năm, ông N không tôn trọng bà và gia đình bà, bà đã nhẫn nhịn rất nhiều. Nay bà không còn tình cảm nên cho dù Tòa án có bác đơn ly hôn của bà thì bà vẫn không thể chung sống với ông N.

Bị đơn ông Nguyễn Chí N trình bày:

Ông và bà Đ không có mâu thuẫn gì trầm trọng, do ông ở nhà em gái trị bệnh chứ không có chuyện hai bên ly thân, việc bà Đ yêu cầu ly hôn với ông là quá bất ngờ, nên ông không đồng ý ly hôn và mong muốn quay về đoàn tụ vì ông vẫn còn thương yêu gia đình, tuy rằng có mâu thuẫn từ việc bán nhà của cha ông cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu trình bày ý kiến:

Về tố tụng:

Ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân Quận C đưa vụ án ra xét xử. Ngày 10/9/2023, ông Nguyễn Chí N kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, kháng cáo trong hạn luật định.

Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N giữ nguyên kháng cáo yêu cầu được đoàn tụ gia đình nhưng ông N không chứng minh được khả năng vợ chồng đoàn tụ trong trường hợp Tòa án bác đơn ly hôn của bà Đ. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy ông N và bà Đ có mâu thuẫn trầm trọng từ việc bán nhà. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

1/ Về tố tụng:

Ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân Quận C xét xử sơ thẩm. Ngày 10/9/2023, ông Nguyễn Chí N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đã tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn kháng cáo của ông Nguyễn Chí N làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét.

2/ Về nội dung kháng cáo:

Bị đơn ông Nguyễn Chí N kháng cáo yêu cầu được đoàn tụ.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét:

Căn cứ vào Giấy chứng kết hôn số 105, ngày 15/10/1985 do Ủy ban nhân dân Phường A, nay là Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị Ngọc Đ và ông Nguyễn Chí N là hợp pháp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung và tài sản chung không bị kháng cáo và kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Về quan hệ hôn nhân: Ông N yêu cầu được đoàn tụ gia đình, do ông cho rằng giữa ông và bà Đ không có mâu thuẫn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông N cho biết ông vẫn còn thương bà Đ, giữa ông và bà Đ không có mâu thuẫn gì trầm trọng, nên không có lý do gì để bà Đ ly hôn với ông. Do đó, ông mong muốn đoàn tụ. Ông và bà Đ đã sống riêng từ năm 2018 đến nay là do ông phải chữa bệnh.

Đ không đồng ý đoàn tụ do tình cảm không còn, nên việc ông N yêu cầu đoàn tụ là không thể, mâu thuẫn nhiều năm nay từ việc bán nhà, sau đó ông N bỏ nhà ra đi vào năm 2018.

Qua trình bày của hai bên đương sự tại phiên tòa cho thấy cuộc sống vợ chồng của hai bên đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, xuất phát từ việc bán căn nhà mà cha ông Nghiệp cho ông N. Từ năm 2018 đến nay, hai bên không còn chung sống với nhau, không quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau, nên việc kéo dài cuộc sống hôn nhân là không thể, càng làm hai bên mâu thuẫn nhiều hơn. Bên cạnh đó ông N yêu cầu đoàn tụ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho việc đoàn tụ sau nhiều năm ly thân từ năm 2018, nên Tòa án cấp sơ thẩm cho ly hôn giữa bà Đ và ông N là có căn cứ.

Với những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên đương sự phải nộp án phí như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của ông N nên ông N phải chịu án phí phúc thẩm. Nhưng ông N đã hơn 60 tuổi, thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí, nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc Đ.
  2. Về quan hệ hôn nhân:Vũ Thị Ngọc Đ được ly hôn với ông Nguyễn Chí N. Giấy chứng nhận kết hôn số 105, ngày 15/10/1985, do Ủy ban nhân dân Phường A, nay là Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị; Quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà Đ chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực thi hành.

    Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 30/01/1987, và Nguyễn Vũ Xuân K1, sinh ngày 14/01/1999. Cả hai đã trưởng thành.

    Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về án phí:
  4. 2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Vũ Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên bà Đ là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí, nên bà không phải nộp án phí.

    H lại tiền tạm ứng án phíĐ đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/008329, ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Chí N phải nộp 300.000 đồng, nhưng ông N là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn án phí nên ông N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000886, ngày 11/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận C;
  • - Chi cục THADS Quận C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D yêu cầu ly hôn với ông N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger