TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04/01/2024
V/v "Tranh chấp ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Vinh Quang
Bà Trương Ngọc Diện
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà:
Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2023/QĐXXST ngày 16 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 608/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1995. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Chiou Yao C, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, lộ D, khóm B, phường T, khu T, thành phố T, Đài Loan
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 08/3/2023 và bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày và yêu cầu:
Vào năm 2017 bà quen biết, tìm hiểu ông Chiou Y C và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 220 ngày 11/12/2017 (Trích lục kết hôn bản sao số 14/TLKH-BS ngày 20 tháng 02 năm 2023. Sau khi kết hôn, bà và ông Chiou Y C cùng về Đài Loan sinh sống, nhưng chỉ được ba tháng thì bà bỏ về Việt Nam vì giữa hai người bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung và khó khăn trong cuộc sống. Từ khi bà về Việt Nam cho đến nay, bà không còn liên lạc được với ông Chiou Yao C.
Do không còn chung sống, liên lạc được với nhau trong khoảng thời gian dài, nếu kéo dài cuộc hôn nhân mà giữa bà và ông C1 Yao Chung ở hai quốc gia cũng không có được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Chiou Yao C.
Về con chung, tài sản và nợ chung: Bà và ông Chiou Y C không có con chung, không tạo lập được tài sản chung, không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Chiou Yao C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về việc bà N xin ly hôn với ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Chiou Yao C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện xin ly hôn với ông Chiou Y Chung cư trú tại Đài Loan, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Chiou Yao C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt (thủ tục thông báo, tống đạt của Tòa án đối với phía bị đơn đã hoàn tất, tại văn bản số 1120059926 ngày 25/8/2023 của Bộ Tư Pháp Lãnh thổ Đài Loan: "Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 01/8/2023 bằng phương thức: Gởi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn công an”. Tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, ông Chiou Yao C cũng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Chiou Yao C xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 220 ngày 11/12/2017 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà N trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông Chiou Y C cùng về Đài Loan sinh sống, nhưng chỉ ở được khoảng 03 tháng thì bà bỏ về Việt Nam, vì bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung và khó khăn trong cuộc sống. Từ khi bà về Việt Nam cho đến nay thì bà không còn liên lạc được với ông Chiou Yao C.
Xét thấy, giữa bà N và ông Chiou Y C sau khi kết hôn có thời gian ngắn chung sống ở Đài Loan nhưng từ khi bà N trở về Việt Nam thì ông Chiou Yao C vẫn ở lại Đài Loan, hai người ly thân, không cùng chung sống với nhau trong thời gian dài, không quan tâm, liên lạc gì với nhau, giữ gìn níu kéo quan hệ hôn nhân. Từ đó, tình cảm giữa hai người thật sự phai nhạt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông C1 Yao Chung là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4, Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Chiou Yao C.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng, được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001696 ngày 17/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ sang án phí, bà N đã nộp đủ án phí.
- Về lệ phí ủy thác: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng, công nhận đã nộp xong 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001779 ngày 27/4/2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo:
- Bà N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
- Ông Chiou Yao C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bảo Anh |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Trần Vinh Quang | Trương Ngọc Diện | Võ Bảo Anh |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
