|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày: 04/01/2024 V/v: “T/c hợp đồng cho thuê tài chính” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE- TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 20/2023/TLST-KDTM ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 198/2023/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty C1;
Địa chỉ trụ sở: Tầng B Cao ốc S, C T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông C, Y- C - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện: Bà Diệp Yến B - Trưởng phòng Thu hồi công nợ; theo văn bản quyền ngày 03/01/2023.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1999 - nhân viên thu hồi công nợ; địa chỉ liên hệ: Tầng B Cao ốc S, C T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; theo văn bản ủy quyền ngày 28/6/2023. (có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH S;
Địa chỉ trụ sở: C N, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh D, sinh năm 1987 - Giám đốc; Địa chỉ: E khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Anh D, sinh năm 1987; (vắng mặt)
- Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1959; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1962; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: E khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2023 cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Minh K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty C1 (sau đây viết tắt là Công ty C1) đã ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022 và số C2212101C1 ngày 26/12/2022 (sau đây viết tắt là hợp đồng thuê) với Công ty TNHH S (sau đây viết tắt là Công ty S). Cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022: thời hạn thuê từ ngày 03/01/2023 đến ngày 05/01/2027; tài sản thuê 01 ô tô con, hiệu TOYOTA, số khung MR2KUAAG5M0021231, số máy 2ZRY763381, biển kiểm soát 71A-115.71; tổng giá trị tài sản thuê 700.000.000 đồng.
- Hợp đồng cho thuê tài chính số số C2212101C1-PC ngày 26/12/2022 : thời hạn thuê từ ngày 04/01/2023 đến ngày 05/01/2027; tài sản thuê 01 ô tô tải (thùng kín) hiệu ISUZU, số khung RLENPR85KH7100701, số máy PS05244JJ1, biển kiểm soát 71C-056.55; tổng giá trị tài sản thuê 500.000.000 đồng.
Để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của Công ty S, Công ty C1 chấp nhận thư bảo lãnh thanh toán cùng ngày 26/12/2022 của cá nhân ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H. Theo đó, trường hợp Công ty S không thực hiện thanh toán tiền thuê theo hợp đồng thuê, thì ông D, ông T và bà H cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê thay cho Công ty S.
Thực hiện các hợp đồng thuê nêu trên, ngày 26/12/2022 Công ty C1 ký hợp đồng mua bán số C2212080C1-PC ngày 26/12/2022 và số C2212101C1-PC ngày 26/12/2022 với Công ty S để mua các tài sản nêu trên và cho Công ty S thuê lại với hình thức cho thuê tài chính. Tổng giá trị của các tài sản là 1.200.000.000 đồng, trong đó Công ty S trả trước 180.000.000 đồng và Công ty C1 tài trợ một phần vốn là 1.020.000.000 đồng (chính là giá trị thuê). Ngày 03/01/2023 và ngày 04/01/2023, Công ty S đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản. Ngày 04/01/2023 và ngày 05/01/2023, hợp đồng thuê được cấp giấy chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm.
Lãi suất thuê là lãi suất thả nổi, được tính dựa trên lãi suất tiêu chuẩn VND của Công ty C2 với biên độ 5,85%/năm. Theo đó, mức lãi suất thuê tạm tính tại ngày bắt đầu thuê là 14,47%/năm.
Hàng tháng, Công ty S phải thanh toán cho Công ty C1 tiền thuê bao gồm một phần vốn gốc và khoản tiền lãi được tính trên dư nợ giảm dần cho đến khi trả đủ số tiền vốn gốc mà Công ty C1 đã tài trợ cùng các khoản lãi theo hợp đồng thuê. Trước khi Công ty S trả hết toàn bộ vốn gốc cùng các khoản lãi, Công ty C1 vẫn là chủ sở hữu của tài sản thuê và là người đứng tên trên toàn bộ các hóa đơn, chứng từ, các giấy tờ pháp lý khác liên quan đến quyền sở hữu đối với tài sản thuê. Căn cứ quy định pháp luật hiện hành và Điều 26 của Hợp đồng thuê, trường hợp Công ty S vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê, hay vi phạm bất cứ một điều khoản hoặc điều kiện nào của hợp đồng thuê, hay bị mất khả năng thanh toán thì Công ty C1 đều có quyền chấm dứt Hợp đồng thuê trước thời hạn, thu hồi tài sản thuê và yêu cầu Công ty S bồi thường thiệt hại (nếu có).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê, Công ty S đã thanh toán không đúng hạn vào tháng 4/2023, đến kỳ thuê tháng 5/2023 thì Công ty S đã ngừng thanh toán cho Công ty C1, mặc dù Công ty C1 đã nhiều lần liên lạc với Công ty S để yêu cầu thanh toán.
Do Công ty S đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo quy định tại Điều 26 của hợp đồng thuê nên vào ngày 07/6/2023 Công ty C1 đã phát hành Thông báo chấm dứt Hợp đồng thuê và thu hồi tài sản thuê, theo đó yêu cầu Công ty N tổng số tiền còn thiếu theo hợp đồng thuê tính đến ngày 09/6/2023 (ngày chính thức chấm dứt Hợp đồng thuê) là 1.226.807.362 đồng. Cho đến nay, Công ty S không thanh toán cho Công ty C1 bất cứ khoản tiền thuê nào.Vì vậy, Công ty C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc Công ty N cho Công ty C1 số tiền thuê còn nợ tính đến ngày 04/01/2024 là 1.273.375.035 đồng (bao gồm nợ gốc và nợ lãi).
- - Buộc Công ty N cho Công ty C1 số tiền lãi phát sinh từ ngày 05/01/2024 tính trên số nợ gốc với mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các hợp đồng cho thuê tài chính cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
- - Trường hợp Công ty S không thanh toán đầy đủ số tiền nêu trên, buộc Công ty S bàn giao tài sản thuê để thanh lý, cấn trừ vào số tiền thuê Công ty S còn nợ.
- - Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê không đủ để cấn trừ nợ, buộc Công ty S có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.
- - Trường hợp Công ty S không thanh toán đầy đủ khoản tiền nợ nêu trên, buộc người bảo lãnh là ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty C1 cho đến khi thanh toán hết số tiền còn nợ.
Bị đơn Công ty TNHH S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ, hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho Công ty S, ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H nhưng Công ty S, ông D, ông T và bà H đều vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại các buổi làm việc, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính của nguyên đơn Công ty C3. Án phí và chi phí tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính yêu cầu trả số tiền thuê, tiền lãi thuê, tiền lãi trên số tiền thuê chậm trả đối với Công ty TNHH S; địa chỉ trụ sở: C N, khu phố B, phường P, thành phố B, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1300404051, đăng ký lần đầu ngày 13/01/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 19 ngày 21/3/2023 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B. Đến nay, Công ty S chưa đăng ký giải thể. Xét thấy, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn Công ty S không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H không có yêu cầu độc lập, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia quá trình giải quyết vụ án, nhưng vắng mặt từ thời điểm Tòa án thông báo thụ lý vụ án cho đến thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án, nên không có ý kiến trình bày. Cho đến nay họ không phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra, cũng như do Tòa án thu thập được và họ cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự cam kết không có tài liệu, chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viêC1, mã số doanh nghiệp C4, đăng ký lần đầu ngày 14/12/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 27/12/2022 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp A, đăng ký lần đầu ngày 13/01/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 19 ngày 21/3/2023 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B; Công ty C1 và Công ty S là các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Công ty C1 có chức năng hoạt động cho thuê tài chính theo Giấy phép số 67a/GP-NHNN ngày 31/10/2017 của Ngân hàng N1. Công ty C1 và Công ty S ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022 và Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212101C1 ngày 26/12/2022, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật dân sự; Điều 113 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên đây là hợp đồng cho thuê tài chính hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo nội dung đã thỏa thuận. Theo Hợp đồng mua bán tài sản số C2212080C1-PC ngày 26/12/2022 và số C2212101C1-PC ngày 26/12/2022, giữa Công ty C1 và Công ty S, thì Công ty C1 đã thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên tại 02 hợp đồng cho thuê tài chính nói trên, mua các tài sản thuê (chi tiết theo Điều 1 của từng hợp đồng), theo Biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản ngày ngày 03/01/2023 và ngày 04/01/2023. Bị đơn Công ty S đã nhận các tài sản thuê như nêu trên.
[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán cho Công ty C1 tổng cộng 02 hợp đồng, tính đến ngày thông báo chấm dứt hợp đồng thuê 07/6/2023 thì Công ty S đã thanh toán số tiền cụ thể như sau:
- - Hợp đồng cho thuê số C2212080C1 ngày 26/12/2022: tiền gốc 33.806.817 đồng, thuế giá trị gia tăng 3.380.682 đồng, tiền lãi thuê 21.181.545 đồng, tổng cộng: 58.369.044 đồng.
- - Hợp đồng cho thuê số C2212101C1 ngày 26/12/2022: tiền gốc 24.594.906 đồng, thuế giá trị gia tăng 1.967.592 đồng, tiền lãi thuê 14.961.211 đồng, tổng cộng 41.523.709 đồng.
Đến tháng 5/2023, Công ty S đã không thanh toán tiền thuê đúng hạn. Sau nhiều lần nhắc nợ, ngày 07/6/2023, Công ty C1 ra Thông báo chấm dứt hợp đồng thuê và yêu cầu Công ty N tổng số tiền còn thiếu theo hợp đồng thuê tính đến ngày 09/6/2023 là 1.226.807.362 đồng. Từ đó cho thấy phía Công ty S đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tài sản quy định trong hợp đồng thuê. Theo quy định tại Mục 26.2 Điều 26 của Hợp đồng thuê thì hợp đồng thuê chấm dứt trước hạn khi Bên thuê không thanh toán tiền thuê như quy định tại Điều 7 và các khoản tiền khác quy định trong Hợp đồng thuê trong vòng 05 ngày kể từ thời điểm đến hạn. Như vậy việc Công ty C5 chấm dứt hợp đồng thuê trước hạn và yêu cầu Công ty S phải thanh toán số tiền còn nợ gốc và lãi là có cơ sở chấp nhận.
Tiền nợ gốc và tiền lãi do chậm thanh toán nợ gốc đã được Công ty C1 tính đúng theo sự thỏa thuận của hai bên tại Mục 26.3.1 Điều 26 của Hợp đồng thuê và Đ c Khoản 9 Điều 35 Thông tư 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Ngân hàng N1. Số tiền nợ cụ thể được thể hiện tại bảng tính lãi ngày 04/01/2024 của Công ty C1:
- - Hợp đồng cho thuê số C2212080C1 ngày 26/12/2022: tiền gốc 557.812.501 đồng, tiền lãi tính đến ngày chấm dứt hợp đồng trước hạn ngày 09/6/2023 là 157.825.123 đồng, tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/01/2024 là 27.164.477 đồng, tổng nợ là 742.802.101 đồng.
- - Hợp đồng cho thuê số C2212101C1 ngày 26/12/2022: tiền gốc 398.437.502 đồng, tiền lãi tính đến ngày chấm dứt hợp đồng trước hạn ngày 09/6/2023 là 112.732.236 đồng, tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/01/2024 là 19.403.196 đồng, tổng nợ là 530.572.934 đồng.
Từ các phân tích trên, tổng số tiền Công ty S có nghĩa vụ trả cho Công ty C1 tính đến ngày 04/01/2024 là 1.273.375.035 đồng.
[2.3] Về yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền thuê chậm trả: Nguyên đơn Công ty C1 yêu cầu bị đơn Công ty S phải trả tiền lãi trên số tiền thuê chậm trả tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong tiền thuê theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho thuê tài chính là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022 và số C2212101C1 ngày 26/12/2022, phù hợp với khoản 4 Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
[2.4] Về yêu cầu giao trả toàn bộ tài sản thuê: Trường hợp Công ty N không đầy đủ số nợ nêu trên, thì Công ty S phải giao trả toàn bộ tài sản thuê như nêu trên để Công ty C1 xử lý, thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận theo hợp đồng thuê.
[2.5] Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Tại các thư bảo lãnh cá nhân ghi ngày 26/12/2022, cá nhân ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H đồng ý bảo lãnh thực hiện các nghĩa vụ của Công ty S đối với Công ty C5 theo các hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên. Việc ông D, ông T và bà H ký kết các thư bảo lãnh cá nhân nêu trên là tự nguyện, nội dung thư bảo lãnh phù hợp với Điều 335 và Điều 338 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền theo hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên cho Công ty C5 thì ông D, ông T và bà H phải liên đới thanh toán thay theo quy định tại Điều 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty S phải chịu án phí có giá ngạch của số tiền 1.273.375.035 đồng theo quy định với số tiền án phí phải nộp là 50.201.000 đồng. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Công ty C1 do nguyên đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 5, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 335, Điều 338 và Điều 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 4 Điều 4, Điều 91 và Điều 131 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động của Công ty C1 và Công ty cho thuê tài chính;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 về việc "tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính" đối với bị đơn Công ty TNHH S, cụ thể như sau:
- - Buộc Công ty TNHH S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 số tiền 742.802.101đ (bảy trăm bốn mươi hai triệu tám trăm linh hai nghìn một trăm linh một đồng) theo Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022. Trong đó: Nợ gốc tiền thuê 557.812.501 đồng, tiền lãi thuê trong hạn 157.825.123 đồng, tiền lãi chậm thanh toán 27.164.477 đồng.
- - Buộc Công ty TNHH S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 số tiền 530.572.934đ (năm trăm ba mươi triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm ba mươi đồng) theo Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212101C1 ngày 26/12/2022. Trong đó: Nợ gốc tiền thuê 398.437.502 đồng, tiền lãi thuê trong hạn 112.732.236 đồng, tiền lãi chậm thanh toán 19.403.196 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho thuê tài chính số số C2212080C1 ngày 26/12/2022, Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212101C1 ngày 26/12/2022.
Trường hợp thanh toán không đầy đủ số nợ nêu trên, thì Công ty TNHH S phải giao trả toàn bộ tài sản thuê để Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 xử lý, thu hồi nợ, tài sản thuê cụ thể như sau:
- - Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212080C1 ngày 26/12/2022, gồm: 01 ô tô con, hiệu TOYOTA, số khung MR2KUAAG5M0021231, số máy 2ZRY763381, biển kiểm soát 71A-115.71.
- - Hợp đồng cho thuê tài chính số C2212101C1 ngày 26/12/2022, gồm: 01 ô tô tải (thùng kín), hiệu ISUZU, số khung RLENPR85KH7100701, số máy PS05244JJ1, biển kiểm soát 71C-056.55.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê không đủ thanh toán các khoản nợ của Công ty TNHH S với Công ty C1 thì Công ty TNHH S còn phải tiếp tục thanh toán số tiền thuê còn nợ.
Trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nêu trên hoặc không giao trả tài sản thuê, thì ông Trần Anh D, ông Trần Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H phải liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C1 theo nội dung Thư bảo lãnh cá nhân đã ký ngày 26/12/2022 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.
- Về án phí: Công ty TNHH S có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch với số tiền là 50.201.000đ (năm mươi triệu hai trăm linh một nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.403.000 (hai mươi bốn triệu bốn trăm linh ba nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007262 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
