|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 01/2024/HS-PT Ngày: 04/01/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thanh Tùng;
Bà Tôn Thị Thanh Thuý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 04/01/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2023/TLPT-HS ngày 06/11/2023 đối với các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Huỳnh M; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 01/01/1981; N sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Con ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị T; A, chị em ruột có 03 người: Lớn sinh năm 1974, nhỏ là bị cáo; Họ tên chồng: Nguyễn Quốc H, sinh năm 1972; Bị cáo có 03 người con: Lớn sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, vào ngày 11/7/2022 bị Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 ngày với số tiền 1.750.000 đồng (chưa được xóa tiền sự); Nhân thân: Ngày 08/10/2021 bị Công an xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15 ngày với số tiền 1.500.000 đồng (đã được xóa tiền sự); Ngày 11/01/2022 bị Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 với số tiền 1.500.000 đồng (đã được xóa tiền sự); Bị cáo Phạm Huỳnh M bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/6/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Trần Thị L; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 01/01/1965; N sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm vườn; Con ông Trần Văn A và bà Nguyễn Thị N1; A, em ruột có 04 người: Lớn sinh năm 1949, nhỏ là bị cáo; Họ tên chồng: Huỳnh Văn C, sinh năm 1960; Bị cáo có 03 người con: Lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1986 Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc trái phép, bị U, thành phố S ra QĐ XPVPHC số 14 ngày 17/02/2023 với số tiền 1.500.000 đồng (chưa được xóa tiền sự); Bị cáo Trần Thị L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Những người không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người làm chứng Nguyễn Thị L1, Trần Thị N2, Trần Thị H1, Đoàn Thị L2 (T), Đoàn Thị T1, Danh Văn B, Lương Thị Nhã Đ, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Văn B1 (Hai), Đỗ Thị Cẩm L3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, tại khu đất trống thuộc ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng có nhiều người trong xóm tập trung lại với nhau để chơi đánh bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền, mỗi bàn từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Hình thức chơi bài binh 06 lá gồm có 04 tụ, trong đó có 01 tụ cái và 03 tụ đặt (ai muốn đặt tụ nào thì đặt, không có tụ chính). Bộ bài tây 52 lá bài được chia cho mỗi tụ 06 lá bài, mỗi người chơi tự sắp xếp lá bài mình thành 02 chỉ, mỗi chi bề bài sau đó tụ làm cái thì tính thắng thua trực tiếp với với 03 tụ còn lạ, khi đến Lọt làm nhà cái (đã đặt tiền) đang chia lập biên bản mời tất cả về cơ quan làm việc. lượt chị Trần Thị b chưa binh, thì bị lực lượng Cổng an kiểm tra
Số tiền của những người tham gia đánh bạc cụ thể như sau: Phạm Huỳnh M mang theo số tiền 1.760.000 đồng, M dùng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, trong lúc đánh bạc có ăn thua qua lại, khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì M để lại tiền trên chiếu bạc, bị tạm giữ trên người 1.660.000 đồng; Trần Thị L mang theo số tiền 60.000 đồng, trong đó ăn gỏi cuốn 20.000 đồng, L dùng số tiền 10.000 đồng để đánh bạc và ké thạnh 01 bàn đã bị thua, số tiền còn lại khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì tự làm rơi mất; Ông Nguyễn Thanh T2 mang theo số tiền 3.715.000 đồng, dùng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, trong lúc đánh bạc có ăn thua qua lại, khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì để lại tiền trên chiếu bạc, bị tạm giữ trên người 3.615.000 đồng; Ông Nguyễn Văn B1 mang theo số tiền 441.000 đồng, dùng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc và ké thạnh 01 bàn chưa ăn thua, khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì dễ lại tiền trên chiếu bạc, bị tạm giữ trên người 421.000 đồng; Bà Trần Thị L4 mang theo số tiền 40.000 đồng dùng để đánh bạc, đã tham gia chơi 02 bàn thua hết, khi lực lượng Công an đến kiểm tra không bị tạm giữ gì; Bà Lương Thị N3 Đoan mang theo số tiền 20.000 đồng dùng để đánh, chưa ăn thua, khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì bị giữ 20.000 đồng.
Tổng số tiền được xác định dùng để đánh bạc là 290.000 đồng. Đối với số tiền 350.000 đồng, của các đối tượng tham gia đánh bạc đã đặt trên chiếu bạc và tiền các đối tượng chạy làm rơi lại nên không xác định được cụ thể của ai sở hữu.
Kết quả tra cứu thì có 02 người tham gia đánh bạc có tiền sự, cụ thể như sau. Phạm Huỳnh M: Ngày 11/7/2022, bị Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng ra th Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 ngày với số tiền 1.750.000 đồng (chưa được xóa tiền sự); Trần Thị L: bị Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14 ngày 17/02/2023 với số tiền 1.500.000 đồng (chưa được xóa tiền sự).
Đối với bị cáo Trần Thị L: Ban đầu bị cáo Trần Thị L khai tên Trần Thị O và cung cấp lý lịch cá nhân không đúng. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành kiểm tra xác minh và xác định được là Trần Thị L, sinh năm 1965, ngụ ấp A, xã C, huyện K, tỉnh Sóc Trăng là đúng. Quá trình điều tra, bị cáo L không thừa nhận tiền sự đối với hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14 ngày 17/02/2023 của UBND Phường 6 với số tiền 1.500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ mẫu chữ ký, chữ viết tiến hành trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định số: 124/KLTL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị L: Trên Biên bản ghi lời khai, ngày 12/02/2023; dưới mục “Người tự khai/Người tường trình' trên Bản tự khai/Bản tường trình, ngày 12/02/2023; dưới mục Cả nhân/người đại diện của tổ chức vi phạm trên biên bản vi phạm hành chính, ngày 12/02/2023 cần giảm định (ký hiệu Al-A3) so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị L trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1-M4) do cùng một người ký và viết ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L phạm tội “Đánh bạc”
Xử:
- - Phạt bị cáo Phạm Huỳnh M 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- - Phạt bị cáo Trần Thị L 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- - Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 02 và 04/10/2023, lần lượt bị cáo Trần Thị L, Phạm Huỳnh M kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
- - Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận kháng cáo của bị cáo M, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo M; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Thị L, Phạm Huỳnh M lập và nộp cho Tòa án nhân dân huyện Kế Sách lần lượt vào ngày 02 và 04/10/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của các bị cáo, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại khu đất trống thuộc ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đội Cảnh sát hình sự Công an huyện K phối hợp với Công an xã A, huyện K tiến hành kiểm tra hành chính 12 đối tượng tham gia chơi đánh bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền và thu giữ tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 290.000 đồng. Trong đó, Phạm Huỳnh M dùng số tiền đánh bạc là 100.000 đồng, Trần Thị L dùng số tiền đánh bạc là 10.000 đồng. Qua kết quả tra cứu tiền án, tiền sự đối với các đối tượng tham gia đánh bạc thì M và L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L về việc xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm; cấp sơ thẩm xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, do tình hình tội phạm đánh bạc đang có chiều hướng gia tăng và ngày một quy mô hơn, các bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, mà lại tiếp tục vi phạm. Việc cho các bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là không nghiêm so với tính chấp hành pháp luật của các bị cáo, sẽ ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Huỳnh M, Trần Thị L về việc xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và xác định các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế để quyết định mức hình phạt 08 tháng tù đối với bị cáo M, 06 tháng tù đối với bị cáo L là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Đối với bị cáo L kháng cáo xin giảm hình phạt và cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng là ông Huỳnh Văn C là chồng của bị cáo L được Chủ tịch UBND tỉnh S tặng bằng khen. Tuy nhiên, đối với bị cáo L khi công an tiến hành kiểm tra hành chính thì bị cáo khai không đúng tên, do bị cáo không thành khẩn khai báo nên cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định họ tên của bị cáo, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và khi xét xử thì bị cáo cũng còn quanh co trong việc khai báo, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và xét xử. Còn đối với bị cáo M từ giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử ở cấp sơ thẩm đều thành khẩn khai báo. Bị cáo M cũng kháng cáo xin giảm hình phạt và cung cấp được tình tiết giảm nhẹ là ông Phạm Văn M1 là ông nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo M tỏ ra thật sự ăn năn hối cải, nên cấp phúc thẩm xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo M. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo L, mà chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo M.
[5] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo L, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo M, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo M.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo L nên bị cáo Lẽ phải chịu án phí phúc thẩm và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo M, sửa án sơ thẩm về hình sự đối với bị cáo M, bị cáo M có kháng cáo và được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 1, 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Trần Thị L về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
- Không chấp nhận một kháng cáo của bị cáo Phạm Huỳnh M về việc xin hưởng án treo.
- Chấp nhận một kháng cáo của bị cáo Phạm Huỳnh M về việc xin giảm hình phạt.
- Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về hình sự đối với bị cáo Phạm Huỳnh M.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Phạm Huỳnh M 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị L 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b, d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Trần Thị L chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Bị cáo Phạm Huỳnh M không phải chịu phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 01/2024/HS-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 01/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
