|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 01/2024/HNGĐ-PT Ngày 04 tháng 01 năm 2024 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Viết Anh. |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Tiến Dũng; |
| Bà Điêu Thị Bích Lượt. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2023/TLPT-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 27/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1988
ĐKHKTT: Khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Ngõ A Đ, tổ dân phố Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. -
Bị đơn: Anh Hà Tiến T1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Chị Trần Thị T – nguyên đơn.
(Chị T và anh T1 đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Tiến T1 có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/4/2013, tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi cưới, vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ chồng tại khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay xét thấy tình cảm không còn, chị xin được ly hôn với anh Hà Tiến T1.
Về con chung: Có 02 con chung là Hà Hải Đ, sinh ngày 24/11/2013 và Hà Hải D, sinh ngày 22/12/2017. Hiện hai con chung đang ở cùng vợ chồng chị. Khi ly hôn, chị xin được nuôi cả hai con chung. Tuy nhiên để giảm bớt gánh nặng cũng như đảm bảo đời sống tình cảm cho các cháu, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Cháu Hà Hải D còn nhỏ nên chị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu Hà Hải Đ đang học ở trường gần nhà, cháu đang học ổn định và để đảm bảo việc học tập của cháu được tốt hơn nên để anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T1 trình bày:
Thống nhất với chị T về thời gian kết hôn và thời gian chung sống như trên. Anh và chị T là vợ chồng. Do sự hiểu lầm, chị T đã làm đơn xin ly hôn. Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ đã tiến hành hòa giải. Nhưng nay anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không có gì là trầm trọng, có thể gắn kết đoàn tụ. Anh đề nghị Tòa án bác đơn xin ly hôn của chị T để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ nuôi dạy con chung, cả hai bên đều khắc phục những thiếu sót trong đời sống vợ chồng. Anh đề nghị Tòa án xem xét nội dung đã trình bày trên, đó là nguyện vọng mong muốn chính đáng của anh.
Về con chung: Có 02 con chung như chị T trình bày. Anh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, với lý do không mong muốn tách rời hai con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Ủy ban nhân dân phường T và Hội phụ nữ phường T:
Chị T và anh T1 có đăng ký kết hôn tại địa phương. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh T1 tại khu T, phường T, thị xã P. Khoảng nửa năm nay, chị T đi làm ăn tự do thỉnh thoảng mới về nhà chồng. Anh T1 cũng đi làm tự do và về ở với bố mẹ đẻ cùng 02 con chung của anh T1 và chị T. Chị T không sinh hoạt phụ nữ ở khu dân cư. Chị T và anh T1 có mâu thuẫn
vợ chồng gì hay không thì địa phương không nắm bắt được vì không thấy chị T báo cáo hoặc thông báo cho chính quyền địa phương hòa giải. Anh T1 và chị T đều có khả năng lao động và có khả năng nuôi con. Ở địa phương không có thông tin gì về nhà đất, công nợ, công sức của vợ chồng.
Tại Bản án số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T về việc xin ly hôn với anh Hà Tiến T1.
Về con chung: Có 02 con chung là Hà Hải Đ, sinh ngày 24/11/2013 và Hà Hải D, sinh ngày 22/12/2017 không phải giải quyết vì không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24 tháng 9 năm 2023, chị Trần Thị T kháng cáo với nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử cho chị được ly hôn với anh Hà Tiến T1.
- Về con chung: Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hải D, sinh ngày 22/12/2017 và anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hải Đ, sinh ngày 24/11/2013.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Trần Thị T. Sửa bản án hôn nhân sơ thẩm số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu trong hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của chị Trần Thị T trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị T và anh Hà Tiến T1 đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T trình bày, sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện nay chị T đi làm xa, chị đã chuyển ra ngoài sống từ tháng 02/2023 và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Điều này phù hợp với kết quả xác minh với chính quyền địa phương là chị T hiện đi làm ăn xa, đã chuyển đi sinh sống ở nơi khác, vợ chồng không còn chung sống với nhau. Về phía anh T1, trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, tại buổi hòa giải ngày 18/5/2023, anh T1 cũng có quan điểm là xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị T.
Mặt khác, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án, chị T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1. Từ khi gửi đơn kháng cáo cho đến phiên tòa phúc thẩm, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm, xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa. Bên cạnh đó, mặc dù anh T1 có quan điểm không đồng ý ly hôn và mong muốn được đoàn tụ với chị T nhưng anh T1 nhiều lần không có mặt tại các buổi hòa giải, làm việc và phiên tòa xét xử vụ án khi được Tòa án triệu tập, cho thấy bản thân anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên có đủ căn cứ để cho chị T ly hôn với anh T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. [2.2] Về con chung:
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị T nên không xem xét, giải quyết về con chung. Khi Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung thì cần phải giải quyết việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng trong cùng một bản án.
Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định chị Trần Thị T và anh Hà Tiến T1 có 02 con chung là cháu Hà Hải Đ, sinh ngày 24/11/2013 và cháu Hà Hải D, sinh ngày 22/12/2017. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được
trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hải D và giao cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hải Đ. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, mặc dù anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng vẫn có quan điểm nếu ly hôn thì anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Xét thấy: mong muốn được trực tiếp nuôi con của chị T và anh T1 là nguyện vọng chính đáng của người làm cha, làm mẹ. Chị T hiện đang làm việc tại Công ty CP L với mức thu nhập là 6.930.000 đồng/tháng; chị T hiện đang thuê nhà ở lâu dài, ổn định ở gần nơi làm việc. Anh T1 là lao động tự do, ở cùng với bố, mẹ đẻ. Bố đẻ anh T1 là ông Hà Văn V có quan điểm sẽ tạo điều kiện về chỗ ở lâu dài cho anh T1 và con sinh sống. Như vậy, cả chị T và anh T1 đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên cần giao cho mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là phù hợp.
Cháu Hà Hải Đ hiện đang học lớp 5, từ khi sinh ra đến nay cháu đều sinh sống cùng bố mẹ và ông bà nội tại thị xã P và đang học ở gần nhà. Cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Do đó, cần giao cháu H Hải Đăng cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng để không làm xáo trộn cuộc sống và việc học tập của cháu. Cháu Hà Hải D hiện mới học lớp 1, cháu còn nhỏ, cần có sự kèm cặp, chăm sóc của người mẹ nên cần giao cháu D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 đều không yêu cầu cấp dưỡng nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị T và anh T1 không đề nghị nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị T, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ về quan hệ hôn nhân và con chung.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên chị Trần Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của chị Trần Thị T.
Sửa Bản án sơ thẩm số: 13/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56,
Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị T được ly hôn anh Hà Tiến T1.
2. Về con chung:
Giao cháu Hà Hải Đ, sinh ngày 24/11/2013 cho anh Hà Tiến T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, có khả năng lao động.
Giao cháu Hà Hải D, sinh ngày 22/12/2017 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên, có khả năng lao động.
Chị Trần Thị T và anh Hà Tiến T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
3. Về án phí phúc thẩm:
Chị Trần Thị T không phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm. Trả lại cho chị Trần Thị T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0003128 ngày 28/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T - Hà Tiến T1 - Tranh chấp hôn nhân gia đình
