Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 01/2024/DS-PT

Ngày 04 - 01 - 2024

V/v tranh chấp thừa kế tài sản.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Tăng

Ông Phạm Trung Thực

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thuận, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Thanh Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 29 tháng 9, 28 tháng 12 năm 2023, và ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2023 về “tranh chấp thừa kế tài sản”

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXPT-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thu T, sinh năm 1991; Nơi thường trú: xóm T, thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tiến L, sinh năm 1953; Địa chỉ: Số B, đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (Văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 7 năm 2020); “có mặt”

- Bị đơn: Ông Lê Hồng N, sinh năm 1968; Nơi thường trú: xóm T, thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L2; Địa chỉ: Số B, tổ A, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội do bà Lê Kiều H, Luật sư của Công ty L2 đại diện theo ủy quyền; “có mặt”

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Huy L1, Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; “có mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1960; Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; “vắng mặt”

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng N, sinh năm 1968; Địa chỉ: xóm T, thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 01 năm 2021); “có mặt”

2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn S, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; “có mặt”

3. Bà Vũ Thị H1 (còn có tên gọi khác N2), sinh năm 1980; Địa chỉ: thôn X, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội; “vắng mặt”

4. Bà Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 06/10/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thu T trình bày: Chị là con duy nhất của ông Lê Đông H3 và bà Nguyễn Tuyết H4 và là cháu nội của cụ Lê Minh H5, cụ Nguyễn Thị P1. Cụ H5, chết năm 2015 và cụ P1, chết năm 2017 có 04 con gồm bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, bố chị ông Lê Đông H3, và ông Lê Hồng N. Cụ P1 không có con riêng và con nuôi, ông H5 có 01 con riêng.

Cụ H5 và cụ P1 đã ly hôn từ năm 1986, sau đó cụ H5 đã kết hôn với cụ N3 và có 01 con chung là Lê Hồng P2, sinh năm 1989 nhưng chị không biết địa chỉ.

Khoảng năm 2000 - 2001 bố mẹ chị ly hôn, chị ở với mẹ được khoảng 01 năm thì được bố đón chị về thị trấn N ở với bố cùng bà nội Nguyễn Thị P1 và vợ hai của bố là bà Vũ Thị H1 (Nụ) tại ngôi nhà hiện nay trên mảnh đất mang tên cụ P1 có diện tích 120m² cùng các con Lê Đông H3 và Lê Hồng N. Bố chị được bà nội Nguyễn Thị P1 cắt cho một thửa đất có diện tích khoảng 40m² trong tổng diện tích 120m² để xây nhà 05 tầng, mỗi tầng có diện tích khoảng 40m² nhưng chưa kịp làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì ngày 14/3/2017 cụ P1 chết, sau đó bố chị chết vào ngày 10/5/2019.

Sau khi bố chị chết, ông Lê Hồng N là chú quản lý toàn bộ diện tích đất 120m² và ngôi nhà 05 tầng do bố chị xây dựng, chị đề nghị ông Nguyễn t thửa đất có ngôi nhà 05 tầng của bố chị nhưng ông Nguyễn k đồng ý nên chị đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế là đất ở diện tích 120m² mang tên bà nội chị Nguyễn Thị P1 theo pháp luật. Do diện tích đất có ngôi nhà 05 tầng lớn hơn và chị là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H3 nên chị sẽ có trách nhiệm trả cho các thừa kế khác kỷ phần thừa kế trị giá bằng tiền. Nếu các thừa kế khác tôn trọng sự định đoạt của bà nội chị là cụ Nguyễn Thị P1 đã quyết định cho bố chị diện tích đất có ngôi nhà 05 tầng bao nhiêu mét vuông thì chị hưởng bấy nhiêu.

Bị đơn ông Lê Hồng N công nhận lời khai của chị T về con chung, con riêng, thời gian chết của cụ Lê Minh H5, cụ Nguyễn Thị P1 và trình bày: Bố mẹ ông đã ly hôn và chết đều không có di chúc. Nhà 05 tầng diện tích khoảng 40m²/01 tầng là do cụ Nguyễn Thị P1 xây dựng khoảng năm 2003-2004, nguồn tiền xây dựng là bán mảnh đất tái định cư của mẹ ông tại khu vườn Cừ được khoảng 760.000.000 đồng. Thời điểm đó ông H3 không có công ăn, việc làm về ở nhờ mẹ, do mẹ ông nuôi nên toàn bộ tiền xây dựng ngôi nhà 05 tầng là của cụ P1. Do vậy ông đề nghị Toà án không mang tài sản là ngôi nhà 05 tầng mà mẹ ông xây dựng để đem ra chia thừa kế và đề nghị Toà án trả lại nguyên trạng ngôi nhà 05 tầng trên diện tích đất 120m² của ông, để ông làm nơi thờ cúng bố mẹ và anh của ông là Lê Đông H3. Do không là người đứng lên xây dựng ngôi nhà 05 tầng nên ông không biết xây dựng hết bao nhiêu tiền, ai là người trả tiền công thợ, trả tiền vật liệu xây dựng.

Ngày 08/01/2021 ông Nguyễn c yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án hủy văn bản chuyển nhượng tài sản nhà đất là ngôi nhà 05 tầng trên diện tích đất 39m² tại thửa đất số 15/120 ngày 04/8/2020 giữa bên chuyển nhượng bà Vũ Thị H1, chị Lê Thu T và bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Văn T1 (đã chết).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P công nhận lời khai của chị T, ông Nguyễn v con chung, con riêng, thời gian chết của cụ Lê Minh H5, cụ Nguyễn Thị P1 và trình bày: Thửa đất là của bố mẹ từ trước diện tích khoảng 540m² trên đất có 01 ngôi nhà 03 gian, khoảng năm 1995 - 1996 cụ P1 chia cho ông Lê Hồng N ½ mảnh đất, và còn cho ông Nguyễn ½ đất nông nghiệp. Cụ P1 không chia đất cho ông H3 vì ông H3 đã được UBND thị trấn N chia đất giãn dân diện tích 08 thước tại khu vườn Diệp.

Năm 1997-1998 Nhà nước thu hồi một phần đất của cụ P1 và ông Nguyễn đ làm đường Quốc lộ 5A và đền bù 01 suất tái định cư tại khu dãy nhãn chân cầu vượt, trước kia gọi là khu vườn C, cụ P1 là người đi nhận tiền đền bù phần đất. Thửa đất còn lại hiện nay có diện tích 120m² mang tên ông N.

Năm 2003-2004 cụ P1 bàn bạc với chị em các bà bán mảnh đất tái định cư đi lấy tiền xây lên ngôi nhà 05 tầng hiện nay chị T đang tranh chấp khởi kiện, do đó tiền xây dựng ngôi nhà 05 tầng là do bán suất đất tái định cư của cụ P1, không ai phải đóng góp. Ông Lê Đông H3 và bà Nguyễn Tuyết H4 là vợ chồng và có 01 con chung là chị T, sau khi vợ chồng ly hôn, chị T ở với mẹ một thời gian thì được cụ H5 đón về nhập khẩu cho chị T ở thị trấn N.

Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng hiện nay ông Nguyễn đ1 ở do ông Nguyễn xây d và 01 ngôi nhà 05 tầng hiện nay chị T đang khởi kiện chia thừa kế, do chị T đã bán ngôi nhà 05 tầng của gia đình cho ông Lê Văn T1 (đã chết) và đã nhận 850.000.000 đồng tạm ứng của ông T1, nên các bà yêu cầu giữ lại ngôi nhà 05 tầng để làm nơi thờ cúng không được chia thừa kế hoặc chuyển nhượng cho ai.

Bà Vũ Thị H1 (tức N2) trình bày: Bà đăng ký kết hôn với ông Lê Đông H3 năm 2005 nhưng trên thực tế bà và ông H3 chung sống với nhau từ năm 2002. Khi về gia đình ông H3 thì bà biết bố mẹ chồng là cụ Lê Minh H5 và cụ Nguyễn Thị P1 sinh được 04 con là bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, chồng bà Lê Đông H3 (đã chết) và ông Lê Hồng N, ngoài ra cụ H5 có 01 con riêng, cụ P1 không có con nuôi hay con riêng. Khi bà về làm dâu thì cụ H5 đã có vợ hai tên là N3 và một con tên là Lê Hồng P2 hiện nay đang sinh sống tại Hà Nội. Bà và ông H3 không có con chung, vợ chồng bà ở cùng với các cụ từ năm 2002 đến năm 2015 cụ H5 mất, cụ P1 mất năm 2017 và chồng bà ông H3 mất 2019. Cụ P1 và ông H3 chết không để lại di chúc và giấy tờ liên quan đến việc cho tặng tài sản bất kỳ ai.

Nguồn gốc đất bà được biết là của cụ Nguyễn Thị P1 có diện tích 120m2 tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, đất chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Từ khi kết hôn vợ chồng bà ở cùng cụ P1 trên ngôi nhà cấp 4 riêng biệt, không ở chung nhà cùng với gia đình ông Nguyễn n đều sử dụng trên cùng thửa đất hiện nay đang tranh chấp có tên trên bản đồ, sổ sách địa chính tên cụ Nguyễn Thị P1. Tài sản trên đất có 02 ngôi nhà, 01 ngôi nhà 05 tầng có diện tích khoảng 39m²/1 tầng của ông Lê Đông H3 trên diện tích đất khoảng 39m² và 01 ngôi nhà 02 tầng có diện tích khoảng 81m²/1 tầng của ông Lê Hồng N trên diện tích đất khoảng 81m². Bà được biết cụ P1 bán suất đất tái định cư được 640.000.000 đồng và đã cho ông H3 200.000.000 đồng, cho ông Nguyễn 2 đồng, cho bà N1 50.00.000 đồng, cho bà P 50.000.000 đồng, còn lại cụ P1 giữ lại để dưỡng già.

Ngôi nhà 05 tầng là do chồng bà ông Lê Đông H3 xây dựng hết 570.000.000 đồng, nguồn tiền xây dựng là do cụ P1 cho và tiền tiết kiệm của hai vợ chồng, sau khi xây dựng xong ngôi nhà 05 tầng thì cụ P1 có cho chồng bà thêm tiền, cụ thể bao nhiêu tiền thì bà không nắm được. Nay chị T khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế là mảnh đất 120m² còn tài sản trên đất là tài sản riêng của vợ chồng bà nay cho chị T có toàn quyền sở hữu. Bà nhất trí quan điểm như của chị T về ngôi nhà 05 tầng và để chị T toàn quyền quyết định.

Bà Nguyễn Thị Thanh H2 trình bày: Do chị Lê Thu T có nhu cầu bán nhà và đất, nên vợ chồng bà và chị T đã thống nhất chị T chuyển nhượng đất và nhà dự kiến là 55.000.000 đồng/m² tại thửa đất 15/120 giáp nhà ông Lê Hồng N và giáp nhà vợ chồng bà. Do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chồng bà ông Lê Văn T1 (đã chết) có lập văn tự chuyển nhượng tài sản nhà đất tại gia đình với chị Lê Thu T và bà Vũ Thị H1 (tức N2), trong nội dung văn tự có thể hiện rõ là thanh toán chia làm 2 đợt: đợt 1 thanh toán cho chị T 850.000.000 đồng (T2 trăm năm mươi triệu đồng), đợt 2 thanh toán nốt số tiền còn lại sau khi hoàn thành thủ tục hồ sơ giấy tờ theo quy định của pháp luật. Văn tự được lập ngày 04/08/2020 khi chưa phát sinh vụ kiện tranh chấp chia di sản thừa kế giữa chị Lê Thu T và ông Lê Hồng N. Ông Lê Văn T1 đã chết ngày 19/09/2020 (ngày 03/08/2020 âm lịch), nguồn tiền mua nhà đất là tiền của vợ chồng bà không liên quan đến các con. Bà không có tranh chấp với chị T và bà H1 (tức N2) nên đề nghị chị T tiếp tục thực hiện văn tự chuyển nhượng tài sản nhà đất ngày 04/08/2020. Nếu chị T không thực hiện theo đúng như cam kết trong văn tự thì bà yêu cầu chị T trả lại cho bà toàn bộ số tiền bà đã giao lần 1 là 850.000.000 đồng, nếu chị T không trả bà tiền theo yêu cầu của bà thì bà khởi kiện chị T bằng một vụ kiện dân sự khác. Bà không có liên quan gì đến vụ án chia di sản thừa kế giữa chị Lê Thu T và ông Lê Hồng N.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản lại xác định: Thửa đất số 15, tờ bản đồ 32; địa chỉ thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên diện tích 126.0m², đơn giá 25.300.000 đồng/m² giá trị 3.187.800.000 đồng, nhà 05 tầng 01 tum giá trị 1.479.706.000 đồng. Tổng giá trị 4.667.506.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 5; khoản 3, 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 118; Điều 612; khoản 1 Điều 623; điểm a Điều 650; điểm a khoản 1 Điều 651; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thu T đối với yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất.

Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị P1 gồm có: Bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, ông Lê Hồng N và ông Lê Đông H3 (Đã chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ là chị Lê Thu T.

Xác nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị P1 có diện tích 120m², tại thửa số 15, tờ bản đồ số 32, diện tích đo thực tế 129.3m² tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Chia 129,3m² đất cho Bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, ông Lê Hồng N và ông Lê Đông H3 (Đã chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ là chị Lê Thu T, mỗi người được hưởng 32,325m² tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Giao chị Lê Thu T thửa đất hình ABCDE có diện tích 53m² trên đất có 01 ngôi nhà 06 tầng có diện tích sử dụng 318m² (Giao đất có sơ đồ kèm theo).

Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lê Thu T trả lại diện tích đất thừa cho các đồng thừa kế có diện tích 20,675m² x 25.000.000đ/m² = 516.875.000 đồng trả bằng tiền giao cho ông Lê Hồng N.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị H1 (tức N2) giao cho chị Lê Thu T quản lý sử dụng nhà đất.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị N1 và bà Lê Thị P giao cho ông Lê Hồng N quyền sử dụng đất.

Giao ông Lê Hồng N thửa đất hình CDGHK có diện tích 76,3m² trên đất có 01 ngôi nhà 02 tầng diện tích sử dụng 152,6m² (Giao đất có sơ đồ kèm theo).

Chị Lê Thu T và ông Lê Hồng N được giao đất có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền về đất đai để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Bác yêu cầu phản tố của ông Lê Hồng N đối với yêu cầu hủy Văn tự chuyển nhượng tài sản nhà đất tại gia đình ngày 04/8/2020 giữa chị Lê Thu T, bà Vũ Thị H1 (tức N2) và ông Lê Văn T1 (đã chết) người kế thừa quyền và nghĩa vụ là bà Nguyễn Thị Thanh H2.

Bản án còn quyết định về án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, bị đơn ông Lê Hồng N kháng cáo đề nghị hủy hoặc sửa bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đưa các tài sản khác của bố mẹ là di sản thừa kế, xác định giá trị quyền sử dụng đất và được nhận đất để làm nhà thờ.

Tại phiên tòa:

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự công nhận di sản của cụ P1 là quyền sử dụng đất diện tích đo thực tế 126.0m², ngôi nhà 05 tầng 1 tum và nhất trí kết quả thẩm định giá trị tài sản.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm giao nguyên đơn được nhận di sản bằng hiện vật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm do giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự. Bị đơn và người liên quan đứng về phía bị đơn đề nghị được nhận nhà, đất và trả chênh lệch di sản số tiền 1.500.000.000 đồng, nếu nguyên đơn nhận nhà, đất thì phải trả bị đơn và người liên quan tổng số tiền 2.000.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết nội dung vụ án: Cấp sơ thẩm chia hiện vật không phù hợp vì chị T chỉ được hưởng ¼ kỷ phần thừa kế và không có nhu cầu sử dụng đất, không có điều kiện thanh toán nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm xác định công sức của ông H3, giao đất cho ông N và buộc ông Nguyễn thanh t1 chênh lệch di sản, hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H1, chị T và ông T1.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 ủy quyền cho nguyên đơn ông Lê Hồng N tham gia tố tụng, bà Vũ Thị H1, và bà Nguyễn Thị Thanh H2 đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế nhà 05 tầng 01 tum là tài sản của ông Lê Đông H3, bị đơn xác định nhà là di sản của cụ Nguyễn Thị P1 nhưng cấp sơ thẩm không yêu cầu ông N xác định quan điểm đối với nhà là chưa đầy đủ. Tại phiên tòa các đương sự đều công nhận nhà là di sản của cụ P1 và đề nghị giải quyết nên

[3] Sự thừa nhận của các đương sự phù hợp với cung cấp của Ủy ban nhân dân thị trấn N có căn cứ xác định cụ Nguyễn Thị P1 đã ly hôn, có 04 con là bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, ông Lê Đông H3 và ông Lê Hồng N. Cụ P1 chết năm 2017 không có di chúc, di sản của cụ P1 là nhà 05 tầng 01 tum và quyền sử dụng đất diện tích đo thực tế 126m² kê khai thửa số 15, tờ bản đồ 32 tại thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khi cụ P1 còn sống, ông N đã xây nhà và quản lý quyền sử dụng đất đo thực tế diện tích 74.2m² đất và cụ P1, ông H3 xây nhà và quản lý quyền sử dụng đất đo thực tế diện tích 51.8m² đất hàng năm cụ P1 là người nộp thuế sử dụng đất nên theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh.

[3] Xét kháng cáo hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấy, các đương sự đều công nhận ngày 04/8/2020 chị Lê Thu T và bà Vũ Thị H1 thỏa thuận bán cho ông Lê Văn T1 nhà, đất giá 55 triệu đồng/m2 tại thửa đất 15/120 giáp nhà anh T1 và ông Lê Hồng N nên theo Điều 500 và Điều 502 Bộ luật Dân sự thỏa thuận ghi văn tự chuyển nhượng tài sản nhà đất giữa chị T, bà H1 và ông Thế là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Các đương sự đều công nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng là thửa đất số 32, tờ bản đồ 15 tại thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên trong khi thửa đất là di sản của cụ P1 chưa được phân chia, và hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực nên theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai, Điều 117, và Điều 129 Bộ luật Dân sự yêu cầu phản tố của ông Nguyễn 1 có căn cứ được chấp nhận.

[4] Cụ Nguyễn Thị P1 không có di chúc nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự di sản của cụ P1 được chia theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất của cụ P1 là bà N1, bà P, ông H3 và ông Nguyễn đ2 hưởng phần di sản bằng nhau theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự. Ông H3 chết không có di chúc nên người thừa kế chuyển tiếp (hàng thừa kế thứ nhất) của ông H3 là bà H1 và chị T được hưởng phần thừa kế của ông H3.

[5] Xét ông H3 đã chăm sóc nuôi dưỡng và sống cùng cụ P1 trong thời gian xây nhà nên quan điểm của đại diện viện kiểm sát xác định công sức của ông H3 là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên sẽ sửa bản án sơ thẩm thanh toán trả ông H3 công sức chăm sóc nuôi dưỡng cụ P1 và công sức trông nom, duy trì di sản tương đương giá trị ½ ngôi nhà số tiền 739.853.000 đồng.

[6] Di sản của cụ P1 giá trị 3.927.653.000 đồng (739.853.000 đồng + 3.187.800 đồng), nên phần di sản mỗi người thừa kế được hưởng giá trị 981.913.000 đồng (3.927.653.000 đồng : 4).

[7] Bà Lê Thị N1, Lê Thị P đều đề nghị giao phần di sản được hưởng cho ông Lê Hồng N nên di sản giao ông N giá trị 2.945.739.000 đồng (981.913.000 đồng x 3). Bà Vũ Thị H1 tự nguyện giao chị Lê Thu T phần di sản được hưởng của ông H3 nên di sản giao chị T giá trị 1.721.766.000 đồng (981.913.000 đồng + 739.853.000 đồng).

[8] Chia hiện vật: Xét yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật của các đương sự, thấy ông N đã quản lý, sử dụng diện tích đất đo thực tế 74.2m² và ông Nguyễn cùng người liên quan đứng về phía bị đơn yêu cầu được thanh toán chênh lệch di sản số tiền 2.000.000.000 đồng nếu chị T nhận nhà đất chứng tỏ ông N không có nhu cầu sử dụng đất. Xét gia đình chị T là người quản lý, sử dụng nhà đất, và tự nguyện thanh toán trả các thừa kế khác quyền sử dụng đất bằng tiền giá trị 25.000.000 đồng/m² so với kết quả định giá 10.000.000 đồng/m² nên cấp sơ thẩm giao chị T sở hữu nhà 05 tầng 01 tum gắn liền quyền sử dụng đất diện tích đo thực tế 51.8m² được tổng trị giá 2.790.246.000 đồng và giao ông Nguyễn q sử dụng đất diện tích 74.2m² giá trị 1.877.260.000 đồng là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện viện kiểm sát giao hiện vật cho ông N. Di sản giao chị T nhiều hơn giá trị di sản được hưởng, trong khi di sản giao ông Nguyễn c1 bằng giá trị di sản được hưởng nên sẽ buộc chị T phải thanh toán trả ông Nguyễn chênh 11 di sản số tiền 1.068.479.000 đồng.

[9] Người được chia thừa kế quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Án phí: Do sửa Bản án sơ thẩm nên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm và tính lại án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chị T phải chịu án phí tương ứng với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn đ2 chấp nhận và giá trị di sản, công sức được nhận. Ông Nguyễn p chịu án phí tương ứng với giá trị di sản bà P, bà N1 và ông Nguyễn đ2 hưởng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 và khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 117, Điều 129, Điều 500, Điều 502, khoản 1 Điều 650, khoản 1 và 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Hồng N, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của chị Lê Thu T đối với di sản của cụ Nguyễn Thị P1 và yêu cầu phản tố của ông Lê Hồng N.

  1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 15, tờ bản đồ số 32; địa chỉ thửa đất: thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (trong hợp đồng ghi là thửa đất 15/120 giáp nhà anh T1 và ông Lê Hồng N) và tài sản gắn liền với đất ghi ngày 04/08/2020 giữa bên chuyển nhượng chị Lê Thu T, bà Vũ Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng ông Lê Văn T1 vô hiệu.
  2. Xác nhận cụ Nguyễn Thị P1 chết năm 2017 không có di chúc. Di sản của cụ Nguyễn Thị P1 là quyền sử dụng đất kê khai thửa số thửa số 15, tờ bản đồ số 32; địa chỉ thửa đất: thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên đo thực tế diện tích 126.0m² và nhà 05 tầng, 01 tum tổng giá trị 4.667.506.000 đồng.
  3. Thanh toán trả ông Lê Đông H3 công sức trông nom, duy trì di sản và công chăm sóc, nuôi dưỡng cụ Nguyễn Thị P1 số tiền 739.853.000 đồng.
  4. Di sản chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị P1 giá trị 3.927.653.000 đồng, hàng thừa kế thứ nhất là bà Lê Thị N1, bà Lê Thị P, ông Lê Đông H3 và ông Lê Hồng N được hưởng phần di sản bằng nhau giá trị 981.913.000 đồng.
  5. Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị N1 và bà Lê Thị P giao phần di sản được hưởng cho ông Lê Hồng N, phần di sản ông Lê Hồng N được hưởng giá trị 2.945.739.000 đồng.
  6. Công nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị H1 giao phần di sản được hưởng của ông Lê Đông H3 cho chị Lê Thu T, phần di sản chị Lê Thu T được hưởng giá trị 1.721.766.000 đồng.
  7. Chia di sản bằng hiện vật:

    Chia cho chị Lê Thu T sở hữu nhà 05 tầng, 01 tum và quyền sử dụng đất diện tích 51.8m² kê khai thửa số 15, tờ bản đồ số 32; địa chỉ thửa đất: thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên vị trí giáp đường Quốc lộ 5A kích thước 9.43m, giáp đất chia cho ông Nguyễn kích t2 6.56m, giáp đất công kích thước 9.33m, và giáp nhà Hương Thế kích thước 4.57m (hình CDEFC trong sơ đồ kèm theo)

    Chia cho ông Lê Hồng N quyền sử dụng đất diện tích 74.2m² kê khai thửa số 15, tờ bản đồ số 32; địa chỉ thửa đất: thôn T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên vị trí giáp đường Quốc lộ 5A kích thước 9.95m, giáp đất bà N4 kích thước 8.62m, giáp đất công kích thước (0.44+9.33)m, giáp đất chia cho chị T kích thước 6.56m, (hình ABCFGA trong sơ đồ kèm theo).

    (Vị trí, kích thước và ranh giới đất chia cho ông Lê Hồng N và chị Lê Thu T xác định theo sơ đồ kèm theo bản án và là phần không tách rời của Bản án)

  8. Buộc chị Lê Thu T thanh toán trả ông Lê Hồng N chênh lệch di sản số tiền 1.068.479.000 đồng (một tỷ không trăm sáu mươi tám triệu bốn trăm bẩy mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Án phí: Ông Lê Hồng N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả ông Nguyễn s tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011967 ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm.

Chị Lê Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 63.653.000 đồng án phí chia tài sản, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000559 ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm; chị T còn phải nộp tiếp số tiền 42.953.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Hồng N phải chịu 124.372.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000670 ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm; ông Nguyễn c2 phải nộp tiếp số tiền 124.072.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 01/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger