TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/DS-PT Ngày: 04/01/2024 "V/v tranh chấp mốc giới đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Bằng.
Các thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển và ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 112/2023/TLPT-DS ngày 06/11/2023 về việc “Tranh chấp mốc giới đất”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 95/2023/QĐXX-PT ngày 18/12/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hải H; sinh năm 1945; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ú; sinh năm 1935; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1948;
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương
Người đại diện theo ủy quyền của bà X, anh H1: Ông Nguyễn Hải H.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
- Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
1
Người đại diện theo ủy quyền của bà C, chị K: Anh Nguyễn Văn T.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hải H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Nguồn gốc thửa đất gia đình ông H đang sử dụng trước đây là của ông Ú và ông T1 (ông Ú và ông T1 là anh em ruột). Khoảng năm 1973, UBND xã H cấp cho ông H thửa đất ở giữa 2 nhà ông Ú và ông T1. Khi ông H ra ở, thửa đất của ông H và ông Ú đã được phân cách nhau bằng hàng tre dây. Ngày 15/2/1996, ông H được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa số 11, tờ bản đồ số 14, diện tích 265m², ông Ú được cấp GCNQSD thửa số 15, tờ bản đồ số 14, diện tích 280m².
- Theo nguyên đơn – ông Nguyễn Hải H trình bày: Ông được cấp đất vào năm 1970 khi còn đang ở bộ đội. Lúc ông ra ở thì ông Ú đã trồng hàng tre dây làm mốc giới ngăn cách giữa thửa đất của ông và thửa đất của ông Ú. Cùng năm, ông làm nhà 3 gian giữa mảnh đất. Đến năm 1982, ông xây thêm 1 gian giáp phía Đông đất ông Ú. Sau đó ông xây tường cách hàng tre một rãnh thoát nước. Đến đầu năm 2016, ông làm nhà cho con trai và mời địa chính xã xuống xác định mốc giới để làm nhà thì phát hiện nhà mình thiếu đất. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất của ông về phía Đông giáp đất gia đình ông T1 đã kiểm tra và xây tường phân cách đúng với hồ sơ địa chính. Về phía T2, cạnh Bắc đất của ông H thiếu 1.3m, cạnh Nam thiếu 0.2m. Khi kiểm tra đất của ông Ú thì cạnh B tại vị trí tranh chấp thừa 1m, cạnh Nam thừa 0.2m. Tại biên bản kiểm tra hồ sơ và hiện trạng đất đai ngày 24/10/2017, hai bên thống nhất nội dung “Phía Bắc thửa đất của ông Nguyễn Văn H2 theo tường xây hiện trạng – dịch chuyển sang đất thùng ao mà ông Ú đã vượt lập sử dụng là 1,0m. Ranh được tính từ mốc vạch sơn tường phía Nam, kéo về phía Bắc mốc đã được cắm – 2 bên nhất trỉ”. Sau đó, ông Ú không trả lại ông theo thỏa thuận. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú phải trả lại ông phần diện tích có cạnh B là 1,3m, cạnh N là 0,2m chạy dài theo khổ đất dài 17m. Tổng diện tích khoảng 12m².
- Theo bị đơn do anh Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Thửa đất gia đình anh đang sử dụng có nguồn gốc là đất ông cha. Ban đầu, gia đình anh và gia đình ông T1 sinh sống trên mảnh đất trải dài từ đường làng phía Đông cho đến phía tây của thửa đất số 15, tờ bản đồ số 14. Sau đó ông H2 được cấp đất giữa nhà anh và nhà ông T1, từ đó mà hình thành hàng tre dây để ngăn cách giữa nhà anh và nhà ông H2. Năm 1982, ông H2 xây nhà có sang trao đổi với bố anh nhờ phần móng nhà phía Tây sang đất nhà anh, sau khi xây lên tường nhà thì lại xây lùi về đường ranh giới. Bố anh đã đồng ý. Sau khi ông H2 xây nhà xong, tiếp tục xây tường giáp ranh giữa 2 nhà, đồng thời hàng tre dây bị phá đi, riêng phần tường giáp ranh phía trước thì bố anh tiếp tục xây cao lên như trong thỏa thuận, nhất trí của 2 nhà. Năm 2007 bố anh xây nhà tắm kiên cố, tường nhà tắm đã xây lui về phần đất nhà anh so với đường ranh giới (bức tường) là 10cm. Đồng thời làm mái che mưa trước
2
cửa nhà vệ sinh bằng fibroximang vì thế bố anh gác luồng vào tường nhà ông H2. Sau này, ông H2 nói không cho gác lên tường thì bố anh dỡ mái che fibroximang và luồng gác lên tường nhà ông H2 ra. Có nghĩa là gỡ bỏ 2-3cm của các đầu ống luồng gài vào hồi nhà ông H2 (dấu tích vẫn còn). Như vậy tường ranh giới giữa đất gia đình anh và đất nhà ông H2 phần lớn do ông H2 xây trước khi được cấp sổ đỏ năm 1996, tường ranh giới này có thể chia ra làm 4 đoạn như sau: Đoạn 1 là tường phía sau nhà ông H2 (ông H2 xây), đoạn 2 là tường đầu hồi nhà ông H2 (do ông H2 xây), đoạn 3 là công trình nhà tắm, vệ sinh được xây lùi về phần đất nhà ông Ú 10cm (ông Ú xây), còn tường giáp ranh cũ của đoạn này đã phá đi. Đoạn 4 là tường phía trước (ông H2 xây móng, ông Ú xây cao thêm). 4 đoạn tường trên hiện nay vẫn còn, không có tranh chấp gì. Hiện trạng đường ranh giới giữa 2 bên cơ bản trùng khớp với sổ đỏ đã cấp cho 2 nhà. Năm 2017, con ông H2 xây nhà thì đường ranh giới Đông nhà ông H2 đã xây bằng tường gạch nhiều năm bị phá đi, xây tường mới lấn về phía đông sang đất nhà ông T1. Căn cứ vào tường xây mới này mà nhà ông H2 đòi tiếp sang phần đất của nhà anh. Theo bản đồ 299, anh khảo sát thấy rằng: Từ mép đường phía đông của làng đến đường ranh giới của nhà anh và nhà ông H2 hiện nay, nhà ông H2 đã lấn chiếm sang nhà anh ở đoạn 1 tường phía sau chứ không phải nhà anh lấn chiếm sang của nhà ông H2. Cũng theo bản đồ 299 thì đường ngăn cách giữa 2 thửa đất là đường thẳng nhưng trong sổ đỏ cấp lại là đường gấp khúc. Về cạnh và diện tích đất nhà anh cũng thừa nhưng thừa là do phía Nam lấn ra ngoài rãnh thoát nước của đường xóm, phía Bắc là do thỏa thuận mua bán của bố anh với ông Nguyễn Ngọc N1 (có giấy viết tay năm 2002). Phía Tây vốn có rãnh, ao, nhà anh và nhà liền kề đã vượt lập, cả 2 nhà đều thừa ra. Tại Biên bản kiểm tra hiện trạng đất của xã, vì bố anh đã cao tuổi, tai điếc, mắt kém, nhận thức chậm, hiểu biết pháp luật hạn chế, nên đã công nhận nhà ông H2 thiếu 1m kích thước cạnh nhà ông H2 giáp đất ông T3, sau khi biết nội dung này, anh không đồng ý và không thực hiện theo thỏa thuận trên.
- Các biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đã thể hiện hiện trạng đất của nguyên, bị đơn. Bản tổng hợp kết quả định giá tài sản thể hiện: Phần đất tranh chấp nằm trên thửa đất số 11, tờ bản đồ số 14, diện tích 265m², tại thôn A, xã H, huyện T, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1687 cấp ngày 15/02/1996 mang tên Nguyễn Văn H2 có giá là 4.000.000 đồng/1m².
- Biên bản xác minh với ông Triệu Đức D ngày 21/4/2023: Vào thời điểm giải quyết tranh chấp giữa ông Nguyễn Hải H và ông Nguyễn Văn Ú, ông làm cán bộ địa chính xã H, huyện T. Tại Biên bản kiểm tra hồ sơ và hiện trạng đất đai ngày 24/10/2017, UBND xã đã kết luận về nội dung kiểm tra hồ sơ đo đạc, theo đó đất của hộ ông Ú thừa 01 mét phía Bắc giáp đất ông N1, còn kích thước phía Bắc của hộ ông H thiếu 1,3m so với giấy chứng nhận. Tuy nhiên, sau đó, hai bên không thực hiện việc điều chỉnh kích thước theo kết luận của UBND xã. Hiện nay, diện tích đất của hộ ông H tăng lên, theo ông là do việc lấn phía Nam thửa đất (trước đây là rãnh thoát nước, trồng khoai ngứa). Đối với tranh chấp ranh giới giữa hai gia đình, tôi đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
3
- Biên bản xác minh với Trưởng thôn An Lâu, xã H ngày 12/8/2023: Đất của hộ ông H có nguồn gốc được tách ra từ đất của hộ ông Ú và hộ ông T1 (đất của ông H ở giữa). Ranh giới giữa đất ông H và ông Ú lúc đầu là hàng rào tre, không có rãnh thoát nước. Phía trước nhà ông H có rãnh thoát nước chạy hết xóm (qua cả nhà ông Ú, ông H và ông T1) rộng khoảng 01m. Đến nay rãnh nước không còn do các hộ đều lấn vào rãnh thoát nước. Do đó diện tích đất các hộ hiện sử dụng đều tăng lên.
- Biên bản xác minh tại Địa chính xã H thể hiện: Cạnh chung giữa 02 thửa thể hiện tại đơn xin cấp GCNQSD đất của hộ ông H thể hiện (8m+8m, cạnh gấp khúc không thể hiện); tại đơn xin cấp GCNQSD đất của hộ ông Ú thể hiện (8m+8,5m, cạnh gấp khúc không thể hiện); tại GCNQSD đất mang tên ông H, cạnh chung thể hiện (8m+1m+8m); tại GCNQSD đất mang tên ông Ú cạnh chung thể hiện là (8m+2m+8,5m). Địa phương xác định các số liệu này đều do cán bộ chuyên môn thời kỳ trước sai sót về đo đạc. Đối với các hộ giáp ranh với hộ ông H, ông Ú, tại địa phương nắm bắt không có sự chuyển nhượng. Giao dịch một phần diện tích đất liền kề giữa các hộ và các hộ đến UBND xã xác nhận việc chuyển nhượng, giao dịch; cụ thể là giữa hộ ông H và hộ ông T3 phía sau; giữa hộ ông Ú với hộ ông N1 phía sau.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 23/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện đã quyết định: Căn cứ vào Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 125 Luật đất đạiĐiều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHán phí lệ phí Tòa án. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hải H về việc tranh chấp về đòi đất lấn chiếm đối với ông Nguyễn Văn Ú.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.
- Ngày 28/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Hải H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hải H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày khoảng năm 1982, ông xây dựng căn nhà cấp 4 giáp đất ông Ú. Năm 1992, ông xây dựng tường bao cách đất của gia đình ông Ú một hàng tre dây và 1 rãnh nước. Phần tường bao phía trước nhà, ông xây dựng tường bao sân vào năm 1976 sau đó vào khoảng năm 1990, ông Ú xây tường bao chồng lên bờ tường cũ của ông. Gia đình ông sử dụng ổn định phần diện tích đất này cho đến năm 2017 khi làm nhà cho con trai, ông H đề nghị đo đạc lại diện tích đất thì phát hiện đất của gia đình ông bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày phần lớn ranh giới đất giữa hai gia đình là do gia đình ông H xây dựng và xác lập. Đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử; Về đường lối giải quyết vụ án, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án không có đủ căn cứ để xác định được mốc giới giữa hai thửa đất
4
nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông H, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hải H có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xem xét vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Ngày 15/2/1996, ông H được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa số 11, tờ bản đồ số 14, diện tích 265m², ông Ú được cấp GCNQSD đất thửa số 15, tờ bản đồ số 14, diện tích 280m². Hồ sơ cấp giấy trên cơ sở bản đồ đo đạc năm 1993. Cạnh chung giữa 02 thửa thể hiện tại đơn xin cấp GCNQSD đất của hộ ông H thể hiện (8m + 8m, cạnh gấp khúc không thể hiện); tại đơn xin cấp GCNQSD đất của hộ ông Ú thể hiện (8m + 8,5m, cạnh gấp khúc không thể hiện); tại GCNQSD đất mang tên ông H, cạnh chung thể hiện (8m + 1m + 8m); tại GCNQSD đất mang tên ông Ú cạnh chung thể hiện là (8m + 2m + 8,5m). UBND xã H xác định các số liệu này đều do cán bộ chuyên môn thời kỳ trước sai sót về đo đạc. Như vậy, kích thước các thửa đất có sai sót về đo đạc, hình thể thửa đất qua quá trình sử dụng đã có sự thay đổi nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H, ông Ú không phải là căn cứ vững chắc và duy nhất để xác định mốc giới giữa hai bên. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H cho rằng ông bị thiếu đất và đề nghị UBND xã kiểm tra. Kết quả kiểm tra của UBND xã xác định, thửa đất của ông H: Về phía Đông giáp đất gia đình ông T1 đã kiểm tra và xây tường phân cách đúng với hồ sơ địa chính. Về phía T2, cạnh Bắc đất của ông H thiếu 1.3m, cạnh Nam thiếu 0.2m. Khi kiểm tra đất của ông Ú thì cạnh B tại vị trí tranh chấp thừa 1m, cạnh Nam thừa 0.2m. Tại biên bản kiểm tra hồ sơ và hiện trạng đất đai ngày 24/10/2017, hai bên thống nhất nội dung “Phía Bắc thửa đất của ông Nguyễn Văn H2 theo tường xây hiện trạng – dịch chuyển sang đất thùng ao mà ông Ú đã vượt lập sử dụng là 1,0m. Ranh được tính từ mốc vạch sơn tường phía Nam, kéo về phía Bắc mốc đã được cắm – 2 bên nhất trí”. Tuy nhiên, biên bản thỏa thuận trên không có hiệu lực pháp luật, ngay sau đó, gia đình ông Ú không công nhận nội dung biên bản nên không có căn cứ chấp nhận trình bày của ông H2 về việc xác định nội dung thỏa thuận là hợp pháp. Trước khi giữa hai bên xảy ra tranh chấp, gia đình ông H2 vẫn sử dụng khuôn viên đất theo các công trình do ông H2 xây dựng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bản thân ông H2 cũng không tự xác định được chính xác mốc giới thửa đất của gia đình ông ở vị trí nào mà chỉ căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ú phải trả lại ông phần diện tích có cạnh B là 1,3m từ tường xây, cạnh Nam là 0,2m từ mốc vạch sơn tường chạy dài theo khổ đất dài 17m, tổng diện tích khoảng 12m² là có căn cứ.
5
[3] Tuy nhiên, trong vụ án, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định mốc giới quyền sử dụng đất giữa hai bên. Cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không xác định mốc giới giữa quyền sử dụng đất của ông H2 và ông Ú là chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về xác định mốc giới giữa hai thửa đất:
Theo ông H2, ban đầu mốc giới giữa hai bên là hàng tre dây. Khi ông xây tường bao vào năm 1991-1992 còn cách hàng tre dây một rãnh nước. Năm 2007, ông Ú xây dựng nhà tắm + WC có hỏi làm nhờ trên phần đất của ông H2. Phía bị đơn không thừa nhận, ông H2 không đưa ra được căn cứ chứng minh nên HĐXX không chấp nhận trình bày của ông H2.
Theo bị đơn, năm 1982, ông H2 xây nhà có sang trao đổi với ông Ú nhờ phần móng nhà phía Tây sang đất nhà ông Ú, sau khi xây lên tường nhà thì lại xây lùi về đường ranh giới. Ông Ú đã đồng ý. Phần móng nhà, mái nhà và mi cửa là những bộ phận không thể tách rời khỏi công trình. Bị đơn cho rằng ông H2 trao đổi xin xây nhờ phần móng, mi sang đất của bị đơn nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh, ông H2 không thừa nhận nội dung này nên HĐXX không chấp nhận trình bày của bị đơn.
Về hiện trạng, ở phía Bắc phần giáp ranh giữa hai thửa đất là bức tường gạch chỉ đỏ do ông H2 xây dựng vào khoảng năm 1991-1992. Phần móng của bức tường đua ra so với bờ tường 10cm. Nối tiếp bức tường là căn nhà cấp 4 ông H2 xây dựng năm 1982. Tại phần giáp ranh giữa hai thửa đất, phần móng nhà đua ra so với bờ tường 23cm, phần mi cửa sổ đua ra so với bờ tường 38cm. Nối tiếp nhà cấp 4 của ông H2 đến công trình nhà tắm + WC do ông Ú xây dựng vào năm 2007. Từ tường nhà tắm đến mặt đường xóm là tường bao. Ông H2 xây dựng bờ tường bao sân từ khoảng năm 1976, ông Ú xây tường chồng lên bờ tường của ông H2 vào năm 1990. Phần móng của bức tường đua ra so với bờ tường là 5cm. Các công trình do hai bên xây dựng được sử dụng ổn định, không có tranh chấp tại thời điểm xây dựng cho đến năm 2017 nên đây là sự thoả thuận về mốc giới của 2 bên. Do đó, cần xác định mốc giới quyền sử dụng đất theo hiện trạng công trình của hai bên đang sử dụng nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nân dân tỉnh Hải Dương. Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định ranh giới giữa quyền sử dụng đất của ông H2 và ông Ú là đường nối bởi các điểm A’3A'13A'12A'11A11A’9 (Có sơ đồ kèm theo).
[4] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
6
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hải H. Sửa bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ vào Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 125 Luật đất đaiĐiều 148, Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHán phí lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hải H.
Xác định ranh giới giữa thửa đất của ông Nguyễn Hải H sử dụng và thửa đất do gia đình ông Nguyễn Văn Ú sử dụng là đường nối bởi các điểm A'3A'13A'12A'11A11A’9 (Có sơ đồ kèm theo).
Nếu đường ranh giới phạm vào tài sản của ai thì các đương sự phải tự tháo dỡ, phá bỏ. Các tài sản khác mà các đương sự không đề nghị giải quyết thuộc phần sử dụng đất của ai thì người đó được quyền sở hữu. Các đương sự có trách nhiệm thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, làm thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về án phí: Ông Nguyễn Hải H, ông Nguyễn Văn Ú được miễn án dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hải H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (04/01/2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hải Bằng |
7
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp mốc giới đất
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mốc giới đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguồn gốc thửa đất gia đình ông H đang sử dụng trước đây là của ông Ú và ông T1 (ông Ú và ông T1 là anh em ruột). Khoảng năm 1973, UBND xã H cấp cho ông H thửa đất ở giữa 2 nhà ông Ú và ông T1. Khi ông H ra ở, thửa đất của ông H và ông Ú đã được phân cách nhau bằng hàng tre dây. Ngày 15/2/1996, ông H được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa số 11, tờ bản đồ số 14, diện tích 265m2, ông Ú được cấp GCNQSD thửa số 15, tờ bản đồ số 14, diện tích 280m2.
