|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/KDTM-PT Ngày: 04 - 01 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 07/2023/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 09/2023/KDTM-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11/2023/QĐXX-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S1; Địa chỉ: Số I, phố T, phường T, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Xuân D; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hải N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH X; Địa chỉ: Số A, đường N, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Công L; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phú N1 - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Công ty TNHH X; Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Cao Xuân D, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Số I, phố T, phường T, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của ông D: Bà Nguyễn Thị L1; Địa chỉ: Số I, phố T, phường T, huyện T, Thành phố Hà Nội (có mặt).
- Công ty trách nhiệm hữu hạn S2; Địa chỉ: Lầu số G, Tòa nhà E, C C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Đồng Mai L2; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp:
Ông Nguyễn Long A, sinh năm 1989; Địa chỉ: Lầu số G, Tòa nhà E, C C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng).
Bà Võ Ngọc Thúy V, sinh năm 1992; Địa chỉ: Lầu A tòa nhà V, số E Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng).
Bà Vũ Thùy D1; Địa chỉ: Địa chỉ: Lầu A tòa nhà V, số E Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn S2: Ông Khuất Văn T - Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: P, tầng A, Indochina Plaza H, 241, X, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội (có mặt).
- Người kháng cáo: Công ty cổ phần S1, là nguyên đơn; Công ty TNHH X, là bị đơn; ông Cao Xuân D, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần S1 (viết tắt Công ty S1) khởi kiện Công ty TNHH X (viết tắt Công ty X) để yêu cầu thanh toán tiền của 03 Hợp đồng, cụ thể:
+ Hợp đồng số 43: Ngày 27/8/2012 Công ty X với Công ty S1 ký kết Hợp đồng số 43/2012/HĐKT-TBA22kV về việc thi công xây dựng gói thầu số 2 TBA 22kV và cáp nối turbine trên cầu hạng mục đường dây và trạm biến áp thuộc dự án nhà máy điện gió tỉnh Bạc Liêu (viết tắt là Hợp đồng số 43). Giá trị Hợp đồng sau thuế VAT là 29.341.400.000 đồng, giá trị thanh toán của Hợp đồng là 28.913.066.685 đồng. Các bên đã hoàn thành việc nghiệm thu, thanh lý Hợp đồng vào ngày 30/6/2013, Công ty X đã thanh toán cho Đông Á được 03 lần: 4.729.525.000 đồng + 3.059.125.000 đồng + 11.770.561.956 đồng và ngày 02/01/2013 Công ty S1 tạm ứng 4.001.100.000 đồng. Tổng số tiền Công ty X đã thanh toán cho Công ty S1 là 23.560.311.956 đồng, số tiền thanh toán 5.352.754.729 đồng (Trong đó bao gồm: Giá trị chưa thanh toán là 2.628.460.608 đồng và tiền giữ bảo hành 2.724.294.121 đồng). Tuy các bên đã thanh lý hợp đồng và thời hạn bảo hành đã hết nhưng Công ty X vẫn không thanh toán số tiền trên, vì vậy Công ty S1 yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng số 43 là 5.352.754.729 đồng, không yêu cầu Công ty X trả lãi suất.
+ Hợp đồng số 11: Ngày 04/5/2013 Công ty X với Công ty S1 ký kết hợp đồng số 11/2013/HĐKT về việc thi công xây dựng gói thầu cầu dẫn cáp đấu nối từ cầu công tác số 3 đến trụ 16 (viết tắt là Hợp đồng số 11). Tổng giá trị Hợp đồng sau thuế VAT là 166.929.521 đồng. Các bên đã hoàn thành việc nghiệm thu, thanh lý Hợp đồng vào ngày 31/12/2013, qua đối chiếu Công ty X đã thanh toán cho Công ty S1 số tiền 158.583.045 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán 8.346.476 đồng, vì vậy công ty S1 yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng số 11 là 8.346.476 đồng, Công ty S1 không yêu cầu Công ty X trả lãi suất.
+ Hợp đồng số 37A: Ngày 09/9/2014, Công ty X với Công ty S1 ký kết Hợp đồng số 37A/2014/HĐKT-TBA22KV về việc cung cấp thiết bị và thi công lắp đặt 52 trạm biến áp III 1800kVA-0,69/22kV (viết tắt là Hợp đồng số 37A). Giá trị Hợp đồng sau thuế VAT là 119.484.710.400 đồng, giá trị Hợp đồng trước thuế là 108.622.464.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng Công ty X đã thanh toán cho Công ty S1 05 lần tiền, cụ thể: Ngày 11/02/2015 thanh toán 6.922.897.827 đồng, ngày 25/4/2015 thanh toán 30.544.253.674 đồng, ngày 22/5/2015 thanh toán 10.723.804.749 đồng, ngày 13/6/2015 thanh toán 10.398.729.250 đồng, ngày 16/12/2015 thanh toán 5.225.591.260 đồng. Ngoài ra, ngày 06/11/2014, Công ty X có cho Công ty S1 tạm ứng 10.862.246.400 đồng. Như vậy, tổng số tiền Công ty X đã thanh toán và cho Công ty S1 tạm ứng là 74.677.523.260 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là 44.807.187.140 đồng. Theo Hợp đồng số 37A thì thời hạn bảo hành đến ngày 30/8/2018 kết thúc nhưng Công ty X vẫn chưa thanh toán cho công ty S1 số tiền trên, vì vậy Công ty S1 yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng số 37A là 44.807.187.140 đồng (Trong đó bao gồm: Giá trị khối lượng thực hiện theo hợp đồng là 21.996.469.700 đồng, 10% bảo hành là 11.948.471.040 đồng, 10% thuế VAT là 10.862.246.400 đồng). Do Công ty X vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng 37A nên Công ty S1 yêu cầu Công ty X phải trả lãi suất trên số tiền phần giá trị khối lượng thực hiện 21.996.469.700 đồng với mức lãi suất 11,25%/năm tính từ ngày 30/9/2016 đến ngày 30/9/2022 bằng tiền là 14.847.617.047 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra để bảo đảm dự thầu gói thầu cung cấp thiết bị và thi công lắp đặt 52 tạm biến áp III 1800kVA-0,69/22kV, Đ đã thực hiện việc nộp tiền bảo đảm dự thầu 3.000.000.000 đồng cho Công L, sau khi Đông Á trúng thầu năm 2014 đến nay Công Lý vẫn chưa hoàn trả lại cho Đông Á số tiền trên, vì vậy Đ yêu cầu Công Lý phải hoàn trả tiền bảo đảm dự thầu 3.000.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi với mức lãi suất 11,25%/năm từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2022 bằng 2.700.000.000 đồng và tiếp tục trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
Như vậy tổng số tiền Đ yêu cầu Công Lý thanh toán là 70.715.905.392 đồng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Công Lý thừa nhận có ký 03 Hợp đồng kinh tế với Đ, cụ thể Hợp đồng số 43, 11 và 37A. Về thời gian ký kết, thời hạn thực hiện Hợp đồng, thời hạn bảo hành, xác định giá trị các Hợp đồng, số tiền tạm ứng, các khoản đã thanh toán, số tiền chưa thanh toán của từng Hợp đồng đúng như đại diện nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên với yêu cầu khởi kiện của Đ thì Công L chỉ đồng ý thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng số 11 là 8.346.476 đồng, đối với các khoản yêu cầu còn lại Công Lý không chấp nhận toàn bộ bởi các lý do:
Đối với Hợp đồng số 43, Công Lý không đồng ý thanh toán số tiền còn lại của Hợp đồng là 5.352.754.729 đồng, bởi: Đông Á có văn bản cam kết để lại cho Công Lý 10% thuế VAT bằng 2.628.460.608 đồng, do Đông Á chưa thực hiện xong nghĩa vụ bảo hành nên Công L không hoàn trả số tiền 2.724.294.121 đồng.
Đối với Hợp đồng số 37A, Công Lý đã thanh toán 74.677.523.260 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là 44.807.187.140 đồng. Lý do Công Lý không thanh toán số tiền trên cho Đông Á vì: Hợp đồng chưa được nghiệm thu do lỗi của 52 tủ điện trung thế nên Công Lý giữ lại 10% bảo hành bằng 11.948.471.040 đồng; Đ còn phải nộp phạt cho Công Lý số tiền 1.602.090.000 đồng do thực hiện công việc chậm tiến độ; Đ có văn bản cam kết để lại cho Công Lý 10% thuế VAT giá trị trước thuế bằng 10.862.246.400 đồng; Chi phí mua 03 tủ trung thế số 46, 15, 29 và chi phí dừng phát điện do sự cố các tủ điện nêu trên là 4.689.448.701 đồng; Do có sự cố của các tủ điện trung thế số 46, 15, 29 nên Công Lý chưa hoàn trả cho Đông Á tiền bảo đảm dự thầu 3.000.000.000 đồng.
Công ty X yêu cầu phản tố, yêu cầu Công ty S1 phải hoàn trả và bồi thường cho công ty X các khoản cụ thể tại các Hợp đồng như sau:
Đối với Hợp đồng số 43, yêu cầu Đ phải hoàn trả cho Công Lý số tiền tạm ứng 4.001.100.000 đồng.
Đối với Hợp đồng số 37A, yêu cầu Đ thực hiện cam kết để lại cho Công Lý 10% thuế VAT bằng 10.862.246.400 đồng; Thực hiện thanh toán nộp phạt do chậm tiến độ tập kết vật tư bằng 1.602.090.000 đồng; Chi phí thay 52 bộ cầu chì tủ điện trung thế bằng 442.336.000 đồng; Bồi thường chi phí phát điện do sự cố 03 tủ 46, 15, 29 bằng 3.874.594.101 đồng; Giá trị thay 03 tủ 46, 15, 29 bằng 814.854.600 đồng; Bồi thường chi phí trong việc thay mới 52 tủ cùng với chi phí lắp đặt, chi phí thử nghiệm, chi phí dừng phát bằng 22.818.204.740 đồng.
- Người đại diện hợp pháp của ông Cao Xuân D trình bày:
Không thừa nhận lời trình bày của Công L cho rằng Đ có tạm ứng từ Công Lý hai lần tiền và mỗi lần số tiền 4.001.100.000 đồng theo Hợp đồng số 43, Đ chỉ tạm ứng một lần bằng số tiền 4.001.100.000 đồng, số tiền này được hoàn trả thể hiện tại chứng từ quyết toán.
- Đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn S2 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Công ty trình bày:
Sự việc Đông Á với Công Lý ký kết các Hợp đồng kinh tế số 43, 11 và 37A thì phía Công ty S3 không phải là một trong các bên tham gia Hợp đồng. Do đó Công ty S3 xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ gì tại vụ kiện, nên không ý kiến gì về tranh chấp giữa Công ty S1 với Công ty X.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 09/2023/KDTM-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S1. Buộc Công ty X có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S1 tổng số tiền 39.653.287.216 đồng (Trong đó: Hợp đồng số 11 là 8.346.476 đồng; hợp đồng số 37A, tiền bảo đảm dự thầu, tiền lãi tổng cộng là 39.644.940.740 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 về việc yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền 31.062.618.176 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty X. Buộc Công ty S1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty X tổng tổng số tiền 35.935.402.383 đồng. (Trong đó: Tạm ứng hợp đồng số 43 là 4.001.100.000 đồng; các khoản theo hợp đồng số 37A là 35.935.402.383 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty X về việc yêu cầu Công ty S1 thanh toán 6.883.588.058 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 18/7/2023 Công ty S1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị giải quyết các nội dung: 1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 đối với Hợp đồng số 43 và 37A với số tiền 31.810.717.440 đồng, gồm các khoản: (1) 10% VAT là 2.628.460.608 đồng và tiền bảo hành 2.724.294.121 đồng của Hợp đồng số 43; (2) 10% VAT là 10.862.246.400 đồng và tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền 14.000.000.000 đồng chưa thanh toán của Hợp đồng số 37A; 2/ Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty X đối với Hợp đồng số 43, 37A với tổng số tiền 42.818.990.441 đồng.
Ngày 19/7/2023 Công ty X kháng cáo bản án sơ thẩm với các nội dung: 1/Tiền lãi theo Hợp đồng số 43, yêu cầu Công ty S1 trả lãi suất bằng 3.918.677.340 đồng (tính trên số tiền gốc 4.001.100.000 đồng); 2/ Đối với Hợp đồng số 37A, yêu cầu Công ty S1 thanh toán tiền phạt chi phí phát điện turbine số 29 bằng 410.528.118 đồng và chi phí thay mới 52 tủ với tổng số tiền 22.818.205.340 đồng; 3/ Đối với tiền bảo hành của Hợp đồng số 37A, không đồng ý thanh toán cho Đông Á tiền bảo hành 11.948.471.040 đồng.
Ngày 18/7/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cao Xuân D kháng cáo bản án sơ thẩm. Nội dung kháng cáo của ông D cùng với nội dung kháng cáo của Công ty S1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo. Tất cả các văn bản của Đông Á thỏa thuận với Công Lý nay Đông Á không công nhận mà căn cứ Hợp đồng số 37A để thực hiện. Sự cố của 52 tủ điện lỗi do quá trình vận hành, do tác động của môi trường nên Đông Á không phải chịu trách nhiệm; theo như nội dung Hợp đồng số 37A quy định sửa chữa thiết bị chứ không thay mới; văn bản của Sở công thương tỉnh B và văn bản của Điện lực Thành phố H xác nhận Nhà máy điện gió Bạc Liêu đủ điều kiện hoạt động; Công Lý phạt chậm tiến độ là không đồng ý vì Công Lý chậm giao nhà trạm; 10% thuế VAT theo Hợp đồng Công Lý chịu. Đông Á chỉ tạm ứng 01 lần do Công Lý chuyển khoản và Đ đã trả đủ, giấy do ông D viết cam kết trả tạm ứng của ngày 10/01/2013 do Công Lý yêu cầu viết chứ thực chất không nhận tiền.
- Đại diện bị đơn trình bày:
Hợp đồng 43, tiền bảo hành 2.724.294.121 đồng không hoàn trả cho Đông Á vì trong thời gian bảo hành Đ không khắc phục sửa chữa thiết bị hư hỏng nên Công Lý giữ lại; tiền thuế VAT 2.628.460.608 đồng, phía Đông Á có văn bản để lại phụ giúp Công Lý đóng lãi vì chậm tiến độ thi công; tiền tạm ứng hai lần, mỗi lần 4.001.100.000 đồng, lần thứ nhất ngày 02/01/2013 Công Lý chuyển khoản, lần hai ngày 10/01/2013 Công Lý giao tiền mặt, đến tháng 6 năm 2013 khi Công Lý thanh toán Hợp đồng thì Đông Á đã trả tiền tạm ứng lần nhất, sau đó đến ngày 19/8/2013 Tổng giám đốc S1 viết cam kết khi được thanh toán sẽ trả tiền tạm ứng của ngày 10/01/2013.
Hợp đồng số 37A, vận hành tủ điện khoảng 04 tháng thì xảy ra sự cố xì khí SF6 của 52 tủ điện, nhà sản xuất khuyến cáo thay mới, hai bên bàn bạc và lập nhiều biên bản về sự cố, Đông Á đồng ý để Công Lý mua mới 52 tủ điện giá 15.100.000.000 đồng, do tranh chấp nên Công Lý chưa thay mới nhưng hiện tại đã nổ 08 tủ điện, các tủ điện còn lại hoạt động trong tình trạng không an toàn, nếu dừng hoạt động thì tổn thất rất lớn mà các bên không thể gánh chịu được, tại thời điểm này nếu thay mới 52 tủ điện thì tổng các khoản trên 22.000.000.000 đồng, căn cứ các biên bản thỏa thuận thì Đông Á trả cho Công Lý giá trị thay mới 52 tủ trên 22.000.000.000 đồng; Công Lý phạt chậm tiến độ đưa thiết bị vào công trình chứ không phạt chậm tiến độ thi công; tiền đảm bảo dự thầu 3.000.000.000 đồng Công Lý chưa hoàn trả cho Đông Á vì sự cố 52 tủ điện; thuế S1 có văn bản hỗ trợ Công Lý đóng lãi.
- Đại diện hợp pháp của Công ty S2 trình bày: Bản án sơ thẩm nhận định Công ty S2 không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc ký Hợp đồng cũng như không liên quan đến tranh chấp giữa Công ty S1 với Công ty X.
- Đại diện hợp pháp của ông Cao Xuân D: Đồng ý với ý kiến của đại diện Công ty S1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;
[1] Các đơn kháng cáo của Công ty S1, Công ty X và của ông Cao Xuân D còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
[2] Công ty S1 và Công ty X ký kết 03 Hợp đồng: Hợp đồng số 11/2013/HĐKT về việc thi công xây dựng gói thầu cầu dẫn cáp đấu nối từ cầu C đến trụ 16; Hợp đồng số 43/2012/HĐKT-TBA22kV về việc thi công xây dựng gói thầu số 2 TBA22kV và cáp nối turbine trên cầu hạng mục đường dây và trạm biến áp thuộc dự án nhà máy điện gió tỉnh Bạc Liêu và Hợp đồng số 37A/2014/HĐKT-TBA22KV về việc cung cấp thiết bị và thi công lắp đặt 52 trạm biến áp III 1800kVA-0,69/22kV. Đối với Hợp đồng số 11 bị đơn đồng ý thanh toán tiền theo yêu cầu nguyên đơn; các bên tranh chấp đối với Hợp đồng số 43 và Hợp đồng số 37A.
[3] Xem xét kháng cáo đối với Hợp đồng số 43
[3.1] Xét kháng cáo của Công ty S1 đối với Hợp đồng số 43
[3.1.1] Xét kháng cáo của Đông Á về tiền bảo hành 2.724.294.121 đồng và tiền thuế VAT 2.628.460.608 đồng
Công ty S1 và Công ty X đều xác nhận số tiền còn lại chưa thanh toán của Hợp đồng số 43 là 5.352.754.729 đồng (bao gồm tiền bảo hành và tiền thuế VAT).
- Đ kháng cáo yêu cầu Công Lý thanh toán số tiền thuế, Đ căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng và Hợp đồng 43 thì Công Lý phải chịu 10% thuế VAT 2.628.460.608 đồng, Công Lý không đồng ý vì Đông Á có cam kết ngày 19/8/2013 với nội dung: Tôi Cao Xuân D, Tổng giám đốc Công ty S1, trong quá trình thi công chậm tiến độ thực hiện Hợp đồng 43, nay tôi tham gia cùng chủ đầu tư phần hóa đơn VAT 10% để đóng góp phần lãi suất Ngân hàng, chủ đầu tư không phải hoàn trả lại cho Đông Á. Như vậy, với nội dung cam kết này Đ tự nguyện, không bị ép buộc về việc để lại cho bị đơn 10% thuế VAT; do đó, kháng cáo này không được chấp nhận.
- Đ kháng cáo yêu cầu hoàn trả tiền bảo hành 2.724.294.121 đồng: Nhận thấy, Hợp đồng số 43 ký kết ngày 27/8/2012, công trình giai đoạn 1 đã được nghiệm thu và đưa vào sử dụng ổn định; tuy nhiên, trong thời gian bảo hành phía Đông Á gửi Công văn số 15 ngày 28/11/2018 cho Công Lý có nội dung: đối với Hợp đồng số 43, còn một số hạng mục nhỏ chưa bảo hành xong, hai bên đã thống nhất để Công Lý tự khắc phục và giảm trừ chi phí vào giá trị bảo hành. Phía Công Lý không có phản hồi đối với nội dung văn bản nhưng không tính chi phí khắc phục gửi cho Đông Á, mà giữ toàn bộ tiền bảo hành là không đúng với thỏa thuận và không đúng với Hợp đồng số 43 quy định về bảo hành. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo này của Đ, buộc Công L hoàn trả cho Đông Á tiền bảo hành 2.724.294.121 đồng; Công Lý giữ tiền bảo hành là vì trong thời gian bảo hành Đ thừa nhận còn tồn đọng một số khiếm khuyết chưa được khắc phục trong việc thực hiện bảo hành, cho nên Đ cũng có một phần lỗi trong việc thực hiện trách nhiệm bảo hành, vì vậy Công Lý không phải chịu lãi suất trên khoản tiền bảo hành là phù hợp với khởi kiện của Đông Á không yêu cầu về lãi suất.
[3.1.2] Xét kháng cáo của Đông Á về khoản tiền tạm ứng lần hai 4.001.100.000 đồng.
Đông Á xác định không tạm ứng lần hai bằng tiền mặt như Công Lý trình bày, mà chỉ tạm ứng một lần thông qua chuyển khoản và Đông Á đã thanh toán cho Công L.
Xét thấy, theo sao kê chi tiết giao dịch tài khoản khách hàng Ngân hàng H thể hiện ngày 02/01/2013 Công Lý chuyển khoản tạm ứng cho Đông Á số tiền 4.001.100.000 đồng; tuy nhiên tại văn bản ngày 16/8/2013 Đ cam kết sẽ trả cho Công Lý khoản tiền tạm ứng của ngày 10/01/2013 với số tiền 4.001.100.000 đồng. Theo chứng từ chuyển khoản và chứng cứ văn bản cam kết thể hiện đây là hai khoản tiền khác nhau, bởi lẽ thể hiện hai ngày tạm ứng khác nhau và tại phiên tòa ngày 22/6/2022 ông D xác nhận do Công L không thực hiện đúng cam kết theo văn bản ngày 16/8/2013 nên Đông Á chưa chuyển trả số tiền tạm ứng 4.001.100.000 đồng cho Công L; mặt khác, tại các chứng từ thanh quyết toán của Hợp đồng số 43 không thể hiện việc đã chuyển trả, đối trừ số tiền tạm ứng mà Tổng giám đốc Đông Á viết cam kết ngày 16/8/2013. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/01/2024 nguyên đơn, bị đơn xác nhận vào tháng 6/2013 khi Công L thanh toán cho Đông Á thì đã khấu trừ tiền tạm ứng của lần chuyển khoản, như vậy tiền tạm ứng Công Lý chuyển khoản ngày 02/01/2013 đôi bên tất toán xong. Đến ngày 16/8/2013 tức là hơn 02 tháng sau Tổng giám đốc S1 có văn bản cam kết khi được Công Lý thanh toán tiếp sẽ trả tạm ứng của ngày 10/01/2013. Đại diện Đông Á cho rằng ông D viết giấy theo yêu cầu của Công Lý, để hợp thức hóa cho khoản nộp VAT chứ thực chất không nhận tiền. Nhận thấy, nếu như Đông Á tạm ứng 01 lần và đã thanh toán xong, thì tại sao hơn hai tháng sau lại tiếp tục viết cam kết nếu được thanh toán sẽ chuyển trả tạm ứng của ngày 10/01/2013. Do Đông Á không đưa ra được chứng cứ để chứng minh là Tổng giám đốc của Đông Á viết cam kết theo yêu cầu từ phía Công Lý. Kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
[3.2] Xét kháng cáo của Công ty X đối với Hợp đồng số 43
Công Lý kháng cáo yêu cầu Đông Á trả lãi suất trên khoản tiền tạm ứng lần hai 4.001.100.000 đồng. Nhận thấy, tại cấp sơ thẩm Công Lý không đặt ra yêu cầu này, bản án sơ thẩm không giải quyết về nội dung yêu cầu lãi suất, do đó cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.
[4] Xem xét kháng cáo đối với Hợp đồng số 37A
[4.1] Xét kháng cáo của Công ty S1 đối với Hợp đồng số 37A
[4.1.1] Xét kháng cáo của Công ty S1 về việc không đồng ý thanh toán cho Công ty X số tiền thay mới 52 tủ điện trung thế RM6 là 15.558.564.000 đồng
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/01/2024, nguyên đơn trình bày các văn bản thỏa thuận trước đây giữa Đ với Công Lý hiện nay S1 không công nhận; mặt khác, Đông Á không có lỗi dẫn đến sự cố 52 tủ điện, nguyên nhân sự cố là bị xì khí SF6 là do quá trình vận hành và do tác động của môi trường, tủ điện gắn ở môi trường không phù hợp...., Đông Á thi công theo bản vẽ của tư vấn thiết kế.
Qua xem xét toàn diện chứng cứ, nhận thấy:
Điều 5, 6 Hợp đồng số 37A có nội dung: Công trình phải được thi công theo bản vẽ thiết kế được chủ đầu tư phê duyệt, chỉ dẫn kỹ thuật được nêu trong hồ sơ mời thầu, phù hợp với hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng cho dự án và các quy định về chất lượng công trình xây dựng của Nhà nước có liên quan, nhà thầu phải có sơ đồ và thuyết minh hệ thống quản lý chất lượng thi công, giám sát chất lượng thi công của mình.
Điều 6 Hồ sơ mời thầu thể hiện: Nhà thầu chịu trách nhiệm khảo sát hiện trường phục vụ cho việc lập hồ sơ dự thầu...
Hồ sơ dự thầu của Đông Á tại chương 4 về biện pháp thi công thể hiện: Khi thi công, ngoài tuân thủ theo các yêu cầu kỹ thuật, đơn vị thi công phải tuân thủ theo các tài liệu hướng dẫn lắp đặt thiết bị của nhà sản xuất, các bản vẽ thi công đã được phê duyệt, các điều kiện thời tiết tại công trình cùng các tiêu chuẩn qui trình qui phạm hiện hành.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì nhà thầu Đ là đơn vị cung cấp thiết bị và thi công lắp đặt 52 trạm biến áp III, trước khi thi công lắp đặt phải có trách nhiệm xem xét, khảo sát các điều kiện thời tiết tại công trình và phải thực thực theo quy định viện dẫn trên nhằm để đảm bảo về chất lượng công trình xây dựng. Sau khi sự cố xảy ra do nguyên nhân tủ điện bị xì khí SF6, nhà sản xuất khuyến cáo phải thay mới toàn bộ, cho nên Đ và Công L lập nhiều biên bản về hướng xử lý sự cố.
Tại văn bản “Ý kiến của nguyên đơn” ngày 21/9/2018, Đông Á gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, có nội dung: Sau khi S từ chối bảo hành, Đ thuê Công ty Đ xác định lỗi xì khí SF6 là do hở các mối hàn ở tủ. Chúng tôi nhận thấy không liên quan đến lắp đặt và vận hành. Hơn nữa quá trình ký kết Hợp đồng Công ty S2 cử cán bộ kỹ thuật xuống công trình hỗ trợ khảo sát điều kiện vận hành và hướng dẫn lắp đặt theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật sử dụng nên không thể đổ lỗi cho lắp đặt và vận hành. Như vậy, với nội dung văn bản này chính Đ xác nhận sự cố tủ điện không phải lỗi vận hành và cũng không phải do tác động của môi trường vì Đông Á đã lắp đặt một số tủ điện giai đoạn 1 nhưng không xảy ra sự cố.
Tại Biên bản ngày 12/9/2016, ý kiến Đông Á trường hợp các tủ RM6 không thể khắc phục được thì Đ sẽ trình chủ đầu tư phương án thay thế bằng tủ mới. Tại biên bản làm việc giữa Đ và Công Lý ngày 26/12/2018, theo đó Đông Á thể hiện ý chí thống nhất để Công Lý tự thực hiện việc thay thế 52 tủ điện; tại biên bản cuộc họp ngày 04/4/2019 (tức là sau khi Đông Á khởi kiện Công Lý vào năm 2017 và đã được xét xử sơ thẩm, phúc thẩm thì hai bên tiếp tục lập biên bản thỏa thuận ngày 04/4/2019) và tại phiên tòa ngày 22/6/2022 Đông Á thừa nhận 52 tủ điện trung thế có nhiều lỗi kỹ thuật, không đảm bảo chất lượng, bị rò rỉ khí, Đông Á đồng ý để Công Lý tự thực hiện việc thay thế 52 tủ điện, Đông Á đồng ý đối trừ cho Công Lý số tiền theo giá trị thay mới 52 tủ điện có bao gồm chi phí lắp đặt, chi phí thử nghiệm theo giá trúng thầu của Hợp đồng số 37A với tổng số tiền là 15.558.564.000 đồng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật, từ đó bản án sơ thẩm buộc Đ thanh toán cho Công Lý 15.558.564.000 đồng là có căn cứ pháp luật; do vậy, kháng cáo của Đ về yêu cầu không thanh toán số tiền này không được chấp nhận.
[4.1.2] Xét kháng cáo của Đ về việc không đồng ý thanh toán cho Công L số tiền thuế VAT 10% bằng 10.862.246.400 đồng
Đại diện hợp pháp của Đ trình bày, căn cứ Hợp đồng số 37A thì Công Lý phải chịu thuế VAT. Về phía Công Lý cho rằng quá trình thi công thì Đông Á chậm tiến độ nhưng Công Lý không phạt nên Đông Á tự nguyện chịu toàn bộ 10% thuế để cùng Công Lý gánh vác tiền lãi suất Ngân hàng, lời trình bày của Công Lý được chứng minh bằng văn bản cam kết của Tổng giám đốc Công ty S1 đồng ý để lại 10% thuế VAT cho chủ đầu tư gói thầu 52 trạm biến áp. Và tại Công văn số 02 ngày 27/02/2017 (v/v đề nghị thanh toán) phía Đông Á không có đề nghị Công Lý thanh toán số tiền thuế này; tại phiên tòa ngày 21/6/2022 đại diện S1 trình bày “có thỏa thuận để lại cho Công Lý 10% thuế VAT”. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của Đông Á yêu cầu Công Lý thanh toán tiền thuế VAT 10% bằng 10.862.246.400 đồng.
[4.1.3] Xét kháng cáo của Đông Á yêu cầu Công Lý thanh toán tiền lãi suất 14 tỷ đồng
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất Hợp đồng số 37A có khoản tiền chưa thanh toán giá trị Hợp đồng 21.996.469.700 đồng. Bản án sơ thẩm buộc Công Lý thanh toán cho Đông Á số tiền này nhưng không buộc Công L phải chịu lãi suất, cho nên Đ kháng cáo yêu cầu Công Lý trả lãi suất.
Căn cứ Điều 7 Hợp đồng số 37, nhà thầu phải hoàn thành toàn bộ công việc theo nội dung của Hợp đồng trong thời gian 270 ngày kể từ ngày khởi công; tuy nhiên nhà thầu Đông Á chậm tiến độ cung cấp vật tư, chậm tiến độ thi công lắp đặt (Công văn số 188 ngày 01/6/2015) và xảy ra sự cố bị xì khí SF6 của một số tủ trung thế RM6 dẫn đến nhà máy có thời gian tạm ngừng phát điện và tại nhiều biên bản làm việc giữa hai bên, tại biên bản ngày 30/11/2016 Đ cam kết khắc phục sự cố và đặt hàng thay thế và kéo dài thời gian Đông Á không thực hiện cho nên tại biên bản ngày 23/5/2018 ý kiến nhà thầu Đ “Đề xuất tự thay thế tủ RMU bị xì khí, cung cấp bảng báo giá cụ thể chủng loại, thông số kỹ thuật và chất lượng thiết bị của nhiều Nhà sản xuất khác nhau...để cho Chủ đầu tư lựa chọn, thời gian cung cấp báo cáo chậm nhất là ngày 30/5/2018”, hết thời hạn quy định, Đông Á cũng không thực hiện nên hai bên tiếp tục lập biên bản ngày 26/12/2018, Tổng giám đốc S1 ý kiến “nhà thầu trừ giá trị thay thế 52 tủ bị xì khí là 15.100.000.000 đồng để chủ đầu tư tự thay thế”. Và sau khi Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm xét xử lần thứ nhất thì biên bản cuộc họp ngày 04/4/2019, Đông Á vẫn đồng ý giảm trừ giá trị thay 52 tủ RMU, chi phí lắp đặt, chi phí thí nghiệm, mua 52 bộ cầu chì 80A với tổng số tiền giảm trừ lên đến 16.104.900.000 đồng.
Với thực tế xảy ra, việc Công Lý chưa thanh toán số tiền còn lại của giá trị Hợp đồng là do Đông Á đồng ý để lại khoản tiền này cho Công L trừ vào giá trị thay thế 52 tủ bị xì khí chứ không phải Công Lý không đồng ý thanh toán cho Đông Á, việc không thay thế tủ điện dẫn đến Công Lý cũng bị xâm hại về quyền lợi, nguyên nhân chậm thanh toán không thuộc về lỗi chủ quan của một mình Công ty X, cho nên không thể buộc Công Lý phải chịu lãi suất. Vì vậy, kháng cáo yêu cầu tính lãi suất của Đông Á không được chấp nhận.
[4.1.4] Xét kháng cáo của Đ đối với khoản tiền bồi thường cho Công L thiệt hại về chi phí trong việc dừng phát điện turbine số 46,15
Trong thời gian bảo hành Hợp đồng số 37A, do 52 tủ điện trung thế bị lỗi xì khí SF6, Công Lý có thông báo cho Đông Á thực hiện bảo hành nhưng Đông Á không thực hiện, vì lẽ đó các turbine số 46,15 phải dừng phát điện là thực tế, tại văn bản ngày 12/9/2016, Đ dự kiến kiểm tra 21 trạm điện, thời gian mỗi trụ là 04 giờ làm việc; dừng phát điện đã gây thiệt hại cho bị đơn số tiền 3.469.065.983 đồng. Tại phiên tòa ngày 22/6/2022, Tổng giám đốc Công ty S1 thừa nhận đây là khoản thiệt hại thực tế phát sinh trong thời gian bảo hành của hợp đồng do sự cố nổ tủ điện, là lỗi của Đông Á. Do đó, bản án sơ thẩm buộc Đ bồi thường là có cơ sở; vì vậy không chấp nhận kháng cáo của Đ.
[4.1.5] Xét kháng cáo của Đ đối với khoản tiền bồi thường cho Công Lý do bị phạt Hợp đồng số 37A
Công Lý phạt Đ do chậm tiến độ tập kết thiết bị đến công trình, ngày 16/6/2015 Công Lý ra Quyết định phạt Hợp đồng với số tiền 1.602.090.000 đồng, phía Đông Á không có ý kiến phản đối chứng tỏ đồng ý với quyết định phạt. Tại phiên tòa ngày 21/6/2022 (bút lục 1873) đại diện Đ trình bày: Công ty S1 chậm tiến độ thực hiện theo Hợp đồng cho nên việc bị đơn ra quyết định xử phạt chậm tiến độ với số tiền 1.602.090.000 đồng là đúng với quy định của Hợp đồng số 37A và đúng pháp luật, nhưng nguyên đơn xin bị đơn giảm số tiền phạt xuống còn 1.000.000.000 đồng, nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ chi trả. Với những chứng cứ này, phía Đ không đồng ý thanh toán là không có căn cứ; do đó, kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
[4.2] Xét kháng cáo của Công ty X đối với Hợp đồng số 37A
- Xét kháng cáo của Công Lý về số tiền phạt chi phí phát điện turbine 29:
Công Lý yêu cầu Đông Á bồi thường 410.528.118 đồng từ tiền phạt chi phí phát điện turbine số 29. Bản án sơ thẩm nhận định Công Lý không khởi kiện đối với nội dung này, tại phiên tòa sơ thẩm đặt ra yêu cầu là vượt quá phạm vi khởi kiện cho nên không xem xét là phù hợp. Do đó, cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét.
- Xét kháng cáo của Công L về việc thay mới 52 tủ điện với tổng số tiền 22.818.205.340 đồng nhưng bản án sơ thẩm chấp nhận 15.558.564.000 đồng, Công L kháng cáo yêu cầu Đông Á thanh toán tiếp số tiền 7.259.641.340 đồng:
Tại phiên tòa ngày 22/6/2022 và tại biên bản cuộc họp ngày 04/4/2019 Đông Á đồng ý để Công Lý tự thực hiện việc thay thế 52 tủ điện, Đông Á đồng ý đối trừ cho Công Lý số tiền theo giá trị thay mới 52 tủ điện trong đó có bao gồm chi phí lắp đặt, chi phí thử nghiệm theo giá trúng thầu của Hợp đồng số 37A với tổng số tiền là 15.558.564.000 đồng, với khoản tiền này đã bao gồm các khoản mà Công Lý yêu cầu. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo về yêu cầu Đ thanh toán 7.259.641.340 đồng.
[5] Xét kháng cáo của Đông Á không đồng ý yêu cầu phản tố của Công Lý đối với Hợp đồng số 43, 37A
[5.1] Xét kháng cáo của Đông Á không đồng ý với yêu cầu phản tố của Công L về Hợp đồng số 43 với số tiền 4.001.100.000 đồng
Nội dung kháng cáo này Hội đồng xét xử nhận định ở mục [3.1.2] về xét kháng cáo của Đông Á đối với khoản tiền tạm ứng lần hai 4.001.100.000 đồng; do yêu cầu của Công L đối với khoản tiền tạm ứng lần hai 4.001.100.000 đồng được chấp nhận, nên nội dung kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
[5.2] Xét kháng cáo của Đông Á không đồng ý với yêu cầu phản tố của Công Lý về Hợp đồng số 37A
- Kháng cáo về thay 52 tủ điện với số tiền 15.558.564.000 đồng: Nội dung này được xem xét, nhận định tại mục [4.1.1], kháng cáo của Đông Á không được chấp nhận.
- Kháng cáo đối với 10% thuế VAT bằng 10.862.246.400 đồng: Nội dung này đã được nhận định ở mục [4.1.2] về xét kháng cáo của Đ; kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
- Kháng cáo đối với khoản tiền bồi thường chi phí phát điện do sự cố tủ 46, 15 với số tiền 3.874.594.100 đồng. Nội dung này đã được xem xét, nhận định tại mục [4.1.4]; kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
- Kháng cáo đối với khoản tiền nộp phạt do chậm tiến độ thực hiện công việc bằng 1.602.090.000 đồng: Nội dung này nhận định tại mục [4.1.5] về xét kháng cáo của Đ, kháng cáo này của Đông Á không được chấp nhận.
- Kháng cáo đối với số tiền thay thế 52 cầu chì bằng 442.336.000 đồng: Nhận thấy, quá trình vận hành thì cầu chì tủ điện trung thế thường hay bị đứt là thực tế xảy ra, được các bên thừa nhận tại các biên bản và tại biên bản ngày 04/4/2019, Đông Á đồng ý giảm trừ cho Công L mua 52 bộ cầu chì với số tiền 442.336.000 đồng. Bản án sơ thẩm buộc Đông Á thanh toán cho Công L là phù hợp, cho nên kháng cáo này không được chấp nhận.
[6] Xét kháng cáo của ông Cao Xuân D cùng nội dung kháng cáo với Đông Á đã nhận định liên quan đến từng nội dung kháng cáo của Đông Á ở các phần trên.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/01/2024, Công Lý bổ sung kháng cáo, yêu cầu Đông Á xuất 27 hóa đơn, nội dung này Công Lý không khởi kiện, cấp sơ thẩm chưa giải quyết, nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.
[8] Từ nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của Công ty X; chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty S1 và kháng cáo của ông Cao Xuân D về yêu cầu Công Lý thanh toán số tiền bảo hành của Hợp đồng 43 là 2.724.294.121 đồng; sửa một phần bản án sơ thẩm.
[9] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công L thanh toán cho Đông Á tổng số tiền 39.653.287.216 đồng + 2.724.294.121 đồng = 42.377.581.337 đồng (Trong đó: Hợp đồng số 11 là 8.346.476 đồng; Hợp đồng số 37A bao gồm tiền còn lại của giá trị Hợp đồng, tiền bảo hành, tiền bảo đảm dự thầu và tiền lãi tổng cộng là 39.644.940.740 đồng; Hợp đồng số 43 tiền bảo hành là 2.724.294.121 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đông Á về việc yêu cầu Công Lý thanh toán số tiền 28.338.324.055 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công Lý. Buộc Đông Á thanh toán cho Công L tổng số tiền 35.935.402.383 đồng (Trong đó: Tạm ứng hợp đồng số 43 là 4.001.100.000 đồng; các khoản theo Hợp đồng số 37A là 31.934.302.383 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công Lý về việc yêu cầu Đông Á thanh toán 6.883.588.058 đồng.
Sau khi đối trừ nghĩa vụ, Công Lý có nghĩa vụ thanh toán cho Đông Á số tiền 42.377.581.337 đồng - 35.935.402.383 đồng = 6.442.179.000 đồng (làm tròn).
[10] Về án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch: Do sửa án sơ thẩm nên án phí có thay đổi
- Đ phải chịu án phí sơ thẩm:
Đối với nghĩa vụ thanh toán tiền cho Công L thì Đông Á phải chịu án phí là 143.935.402 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, Đông Á phải chịu án phí là 136.338.324 đồng.
Tổng số tiền án phí Đông Á chịu 280.273.726 đồng, được khấu trừ đã dự nộp 89.658.094 đồng, phải nộp tiếp 190.615.632 đồng.
- Công Lý phải chịu án phí sơ thẩm là:
Án phí đối với nghĩa vụ thanh toán tiền cho Đông Á thì Công Lý phải chịu án phí là 150.377.581 đồng.
Án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận thì Công Lý phải chịu án phí là 114.883.588 đồng.
Tổng số tiền án phí Công Lý phải chịu 265.261.169 đồng, khấu trừ đã dự nộp 138.982.500 đồng, Công L phải nộp tiếp 126.278.669 đồng.
[11] Án phí phúc thẩm Công ty X phải chịu theo quy định pháp luật; Công ty S1 và ông Cao Xuân D không phải chịu.
[12] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án sơ thẩm; tuy nhiên Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm với nội dung nhận định trên.
[13] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn X; chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần S1 và kháng cáo của ông Cao Xuân D về yêu cầu đối với số tiền bảo hành trong Hợp đồng số 43; sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 09/2023/KDTM-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Căn cứ các Điều 30, 92, 144, 147, 200, 202, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 358, 468 Bộ luật dân sự; Điều 297, 303 của Luật thương mại; các Điều 138, 139, 140, 144, 146, 147 và 166 của Luật xây dựng; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần S1 tổng số tiền 42.377.581.337 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S1 về việc yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn X thanh toán số tiền 28.338.324.055 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn X. Buộc Công ty Cổ phần S1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn X tổng số tiền 35.935.402.383 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty trách nhiệm hữu hạn X về việc yêu cầu Công ty Cổ phần S1 thanh toán 6.883.588.058 đồng.
3. Sau khi đối trừ nghĩa vụ thanh toán giữa Đông Á và Công Lý, Công ty trách nhiệm hữu hạn X có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần S1 số tiền 42.377.581.337 đồng - 35.935.402.383 đồng = 6.442.179.000 đồng (làm tròn số) (sáu tỷ, bốn trăm bốn mươi hai triệu, một trăm bảy mươi chín ngàn).
Kể từ ngày Công ty cổ phần S1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty trách nhiệm hữu hạn X không thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch
Công ty Cổ phần S1 phải chịu là 280.273.726 đồng. Ngày 14/3/2017 Công ty Cổ phần S1 đã dự nộp 74.205.094 đồng tại biên lai số 0002775; ngày 05/20/2017 đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0003763 và ngày 15/11/2022 đã dự nộp 15.153.000 đồng tại biên lai số 0002476 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ. Công ty Cổ phần S1 phải nộp tiếp số tiền 190.615.632 đồng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu là 265.261.169 đồng; Ngày 26/6/2017 Công ty trách nhiệm hữu hạn X đã dự nộp số tiền 63.036.500 đồng tại biên lai số 0003321 và ngày 18/01/2022 đã dự nộp số tiền 75.946.000 đồng tại biên lai số 0000817 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ. Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải nộp tiếp số tiền 126.278.669 đồng.
5. Án phí phúc thẩm
Công ty Cổ phần S1 và ông Cao Xuân D không phải chịu; đã dự nộp mỗi người 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003726 và 0003727 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.
Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 2.000.000 đồng; đã dự nộp 2.000.000 đồng theo biên lai số 0003739 ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.
6. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền |
Bản án số 01/2024/KDTM-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình
- Số bản án: 01/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo; sửa một phần về bảo hiểm công trình
