Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST.

Ngày: 04 - 01 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hữu Tường.
  2. Ông Nguyễn Văn Quản.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 383/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1253/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn H; giới tính: Nam; sinh ngày: 10/9/2003; sinh tại: Tỉnh An Giang; căn cước công dân số: 08920302xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn U, con bà Nguyễn Thị Thanh Th; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 01/9/2023 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Anh Chấm Anh K; sinh năm: 1967; địa chỉ: tổ 20, khu phố 2, phường Hiệp Thành, Quận 12. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Trọng Q; sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố 6, phường Hiệp Thành, Quận 12. (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Thành Đ; sinh năm: 1994; đăng ký thường trú: xã Cư Yang, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lắk; địa chỉ: Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Hùng L; sinh năm 1962; đại chỉ: xã Cư Yang, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lắk. (vắng mặt)
  2. Anh Lê Anh T; sinh năm: 1972; địa chỉ: Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 24/8/2023, lực lượng Công an Quận 12 T hành kiểm tra cơ sở kinh doanh Internet, địa chỉ: 269, đường Nguyễn Ảnh Thủ, phường Hiệp Thành, Quận 12 phát hiện đối tượng Lê Văn H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 12 nên triệu tập H làm việc. Qua làm việc, H khai nhận: do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Lê Văn H đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

- Vụ thứ 1: Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, Lê Văn H đi bộ đến dãy nhà trọ, địa chỉ: đường HT22, khu phố 2, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Well màu xanh, biển số: 93F4-4431 của anh Chấm Anh K đang dựng trước phòng trọ, không có người trông coi nên H lấy trộm và dẫn bộ xe mô tô trên đi đến gặp đối tượng tên Khoa (chưa xác định lai lịch) tại địa chỉ: số 74, đường HT 43, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12 và nói cho Khoa biết là H vừa trộm cắp được xe mô tô biển số: 93F4-4431, H nhờ Khoa giới thiệu người mua thì Khoa đồng ý, đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Khoa gọi điện thoại thông báo cho H biệt là có người mua xe mô tô trên và theo sự hướng dẫn của Khoa thì H đi đến địa chỉ: số 01, đường Lê Văn Khương, Khu phố 7, phường Hiệp Thành, Quận 12 gặp nam thanh niên tên Tuấn (chưa rõ lai lịch) để bán xe mô tô trên với số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó, H cho Khoa số tiền 300.000 đồng, còn lại số tiền 2.200.000 đồng thì H đã tiêu xài hết. Vào ngày 24/8/2023, anh Lê Văn H1 là bảo vệ chung cư Hưng Ngân phát hiện xe mô tô biển số 93F4-4431 vắng chủ đang để tại nhà xe khu chung cư Hưng Ngân, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 nên đã giao nộp cho Công an.

- Vụ thứ 2: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/8/2023, H đi bộ đến dãy nhà trọ địa chỉ số: đường HT22, Khu phố 6, phường Hiệp Thành, Quận 12, thì phát hiện 01 xe mô tô, nhãn hiệu Angel, biển số: 88F2-0439 của anh Nguyễn Trọng Q làm chủ đang để tại lối đi ra vào của dãy phòng trọ, không có người trông coi, H vào lấy trộm và dẫn bộ xe mô tô trên đến vựa ve chai, địa chỉ số: 44/39, đường HT43, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12 do ông Lê Văn T làm chủ và bán cho ông T xe mô tô trên với số tiền 500.000 đồng, hiện H đã tiêu xài hết.

- Vụ thứ 3: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, H đi bộ đến dãy nhà trọ địa chỉ số: tổ 45B, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12, phát hiện 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số: 47F1-183.27 của anh Nguyễn Thành Đ làm chủ đang dựng trước phòng trọ, không có người trông coi nên H vào lấy trộm và dẫn bộ xe mô tô trên đến bãi đất trống thuộc Khu phố 7, phường Hiệp Thành, Quận 12 bán cho một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) với số tiền 500.000 đồng; hiện H đã tiêu xài hết (xe chưa thu hồi được).

Vật chứng thu giữ:

01 xe mô tô nhãn hiệu Well, biển số 93F4-4431, số máy: 10405695, số khung: 10405828. Kết quả xác minh do ông Trần Q Tuấn, đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông Tuấn bán xe mô tô này cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch) với số tiền 4.000.000 đồng (kèm giấy đăng ký xe), nhưng không làm thủ tục sang tên đăng ký chủ sở hữu. Đến năm 2005, ông Chấm Anh K mua lại xe mô tô này (kèm giấy đăng ký xe) nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu và đến ngày 16/8/2023 bị mất trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã trả lại xe cho chủ sở hữu là ông Chấm Anh K.

01 xe mô tô, nhãn hiệu Aggel, biển số 88F2-0439, số máy: FT441139, số khung: DNFX8MC4U441199. Kết quả xác minh do bà Nguyễn Thị Th đứng tên chủ sở hữu; đến khoảng tháng 5/2023 bà Th bán xe mô tô này cho anh Nguyễn Trọng Q nhưng không làm thủ tục sang tên đăng ký chủ sở hữu, đến ngày 21/8/2023 bị mất trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Trọng Q.

02 USB ghi nhận hình ảnh Lê Văn H thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 93F4-4431 và xe mô tô biển số 47F1-183.27 (kèm theo hồ sơ vụ án).

Tại Kết luận định giá tài sản số 244/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12 kết luận:

Xe mô tô nhãn hiệu Well, biển số 93F4-4431, số máy: 10405695, số khung: 10405828 có trị giá số tiền là: 1.550.000 đồng.

Xe mô tô nhãn hiệu Aggel, biển số 88F2-0439, SM: FT441139, SK: DNFX8MC4U441199 có trị giá số tiền là: 1.075.000 đồng.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, biển số 47F1-183.27, số máy: JC43E5646057, số khung: 4320AY527992 có trị giá số tiền là: 6.500.000 đồng.

Về phần dân sự:

Người bị hại Chấm Anh K và Nguyễn Trọng Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án.

Người bị hại Nguyễn Thành Đ yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, biển số 47F1-183.27 bị trộm cắp không thu hồi được với số tiền là 6.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-Q.12 ngày 13/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bị hại Nguyễn Thành Đ yêu cầu bị cáo bồi thường 6.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án, đề nghị: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã xử lý nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành Đ số tiền 6.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xử có cơ sở kết luận:

Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, tại địa chỉ: Khu phố 2, phường Hiệp Thành, Quận 12, Lê Văn H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Well màu xanh, biển số: 93F4-4431 của anh Chấm Anh K, xe trị giá 1.550.000 đồng.

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/8/2023, tại địa chỉ số: đường HT22, Khu phố 6, phường Hiệp Thành, Quận 12, H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu Angel, biển số: 88F2-0439 của anh Nguyễn Trọng Q, xe trị giá 1.075.000 đồng.

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, tại địa chỉ số: tổ 45B, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12, H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số: 47F1-183.27 của anh Nguyễn Thành Đ, xe trị giá 6.500.000 đồng.

Tổng giá trị 03 xe mô tô là 9.125.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử xác định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chấm Anh K và Nguyễn Trọng Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Bị hại Nguyễn Thành Đ yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, biển số 47F1-183.27 với số tiền là 6.500.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành Đ số tiền 6.500.000 đồng, bồi thường hết toàn bộ số tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[5] Về vật chứng vụ án: Cơ quan Công an đã xử lý, lưu giữ vào hồ sơ vụ án nên không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bồi thường 6.500.000 đồng nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 325.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường cho anh Nguyễn Thành Đ số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. Bồi thường toàn bộ số tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh Nguyễn Thành Đ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Lê Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 325.000 (ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (1)
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; (1)
  • - VKSND Quận 12; (2)
  • - Chi cục THADS Quận 12; (1)
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1)
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 12; (1)
  • - Nhà tạm giữ Công an Quận 12; (2)
  • - Thi hành án hình sự; (4)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng khác; (5)
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (22)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Bá Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger