Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

2. Ông Nguyễn Quang Đạt.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu P - Kiểm sát viên.

Ngày 04/01/2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2023/TLST - HS ngày 22/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2023/QĐXXST - HS ngày 21/12/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết P1, sinh ngày 29/10/1987.

Nơi thường trú: số nhà B, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết M và bà Trần Thị K; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Cướp tài sản. Hiện nay không có hồ sơ lưu trữ về việc chấp hành án phí đối với bản án trên; Bị cáo tạm giữ ngày 08/9/2023, tạm giam từ ngày 17/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Như Đ, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: số B M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 2003; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: ký túc xá 15 tầng, trường Đại học Y, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: : Anh Trần Văn K1, ông Tạ Xuân N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Viết P1 là đối tượng không có việc làm, không có nơi ở cố định, sinh sống tại gầm cầu Ngã tư Sở. Khoảng từ tháng 7/2023 P1 quen biết với Phạm Xuân T (sinh năm 1994; trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nam Định), Trường H nổ máy xe mô tô mà không cần chìa khóa xe bằng cách sử dụng thanh kim loại chữ U đấu nối điện ở phần đầu xe. Sau đó, P1 và T bàn bạc với nhau T sẽ chở P1 bằng xe mô tô đi tìm kiếm những xe mô tô sơ hở rồi trộm cắp bằng cách dùng chìa khóa giả cắm vào ổ khóa để tránh sự phát hiện và sử dụng thanh kim loại hình chữ U đấu nối điện rồi nổ máy tẩu thoát. P1 và T phân công nhiệm vụ, P1 sẽ trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản còn T ngồi trên xe, đứng ngoài cảnh giới và nổ máy chờ sẵn nếu bị phát hiện thì sẽ cùng phóng xe tẩu thoát. Do cần tiền tiêu xài, P1 và T đã sử dụng thủ đoạn như trên để trộm cắp tài sản cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, T gọi điện rủ P1 đi trộm cắp tài sản thì P1 đồng ý. Ngày 07/9/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đeo BKS 29Y3-590.28 đến đón P1 tại gầm cầu vượt N. Tại đây, T đưa cho P1 01 thanh kim loại hình chữ U (dài khoảng 02cm), 01 chìa khóa xe (dài khoảng 8 cm) rồi cả hai đi lòng vòng các tuyến phố tìm xe mô tô sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/9/2023, khi đi đến ngõ B đường M, phường M, quận N, Hà Nội thì cả hai phát hiện 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS: 90B2-531.54, số khung: 3902HY230402, số máy: JA39E0230402 dựng trong ngõ trước cửa hàng S không có người trông coi. T dừng xe cách đầu ngõ khoảng 7-8m, nổ máy chờ sẵn còn P1 đi bộ tới gần chiếc xe trên thực hiện hành vi trộm cắp. P1 dùng hai tay lắc cổ xe thấy xe không khóa cổ, khóa càng nên P1 cắm chìa khóa xe giả vào ổ khóa và cúi người xuống sử dụng thanh kim loại hình chữ U đấu nối điện nổ máy tẩu thoát. Cả hai hẹn nhau sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp tài sản sẽ gặp nhau tại khu vực trường đua gần sân vận động M2. Tại đây, P1 giao cho T chiếc xe vừa trộm cắp được, T hứa hẹn chia cho P1 số tiền 1.000.000 (một triệu đồng). Vào hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày, anh Nguyễn Như Đ là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 90B2-531.54 phát hiện bị mất trộm nên đã trình báo tới Công an phường M. Hiện chưa thu giữ được xe máy trên.

Vụ thứ hai: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, khi P1 và T đi đến ngách A, phố N, phường P, quận T, Hà Nội thì quan sát thấy 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, đeo BKS: 19S1-389.11, số khung: RLHJA3925NY403942, số máy: JA39E2818065 đang dựng sát tường đối diện nhà số E ngách A, phố N không có người trông coi nên T dừng xe cách chiếc xe trên khoảng 03m để P1 xuống tiến lại gần chiếc xe trên, còn T ngồi trên xe nổ máy sẵn chờ P1. P1 tiến lại gần chiếc xe rồi dùng thanh kim loại chữ U để đấu nối điện nổ máy, dùng chìa khóa giả cắm vào ổ khóa xe. Sau đó, P1 ngồi lên xe, tay phải nắm vào tay lái bên phải (tay ga) của xe, chân phải đặt vào tay lái bên trái của xe, đồng thời dùng tay phải kéo, chân phải đẩy làm gãy khóa xe. Ngay lúc này, anh Nguyễn Thanh B phát hiện đã tri hô trộm. Thấy bị phát hiện nên P1 dắt lùi xe để chạy tẩu thoát, khi dắt lùi xe đến trước số 46 ngách A, phố N (cách vị trí ban đầu khoảng 3m) thì P1 gặp anh Trần Văn K1 nên P1 bỏ lại chiếc xe trên để chạy tẩu thoát, còn T đứng ngoài đã nổ máy xe đi mất. P1 bị người dân đuổi bắt đến trước ngõ A, phố N thì bị bắt giữ, đưa P1 về trụ sở cơ quan công an để giải quyết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự kết luận:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS 90B2-531.54, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: 3902HY230402; Số máy: JA39E0230402, sản xuất năm 2017, đăng ký lần đầu ngày 20/9/2017, đã qua sử dụng, tài sản chưa thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là: 8.000.000 đồng.

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, đeo BKS 1951 - 389.11, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: RLHJA3925NY403942; Số máy: JA39E2818065, sản xuất năm 2022 đăng ký lần đầu ngày 20/9/2022, đã qua sử dụng, tài sản thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là: 15.000.000 đồng."

Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 23.000.000 đồng.

Đối với đối tượng Phạm Văn T1, hiện đang bỏ trốn, không có mặt ở nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã tiến hành tách rút các tài liệu liên quan đến T1 để điều tra xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự:

Cơ quan CSĐT - Công an quận T đã trao trả 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave, BKS 19S1-389.11, số khung RLHJA3925NY403942, số máy JA39E2818065, màu xanh bạc đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Thanh B là chủ sở hữu chiếc xe. Anh B không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS 90B2-531.54; số khung 3902HY230402, chủ sở hữu mang tên ông Nguyễn Như M1. Tiến hành lấy lời khai ông M1: Năm 2017 ông M1 mua chiếc xe trên rồi cho anh Nguyễn Như Đ (con trai ông M1) để sử dụng. Ngày 7/9/2023, chiếc xe bị trộm cắp, hiện chưa thu hồi được. Anh Đ yêu cầu P1 bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 8.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 239/CT-VKSTX ngày 22/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Truy tố bị cáo Nguyễn Viết P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết P1 từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2023, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: căn cứ các quy định của pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường của bị cáo cho bị hại cụ thể:

- Thiệt hại về tài sản do bị cáo đã chiếm đoạt của anh Đ theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản đã xác định là 8.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa, dạng chìa khóa xe máy, dài khoảng 08cm, có ghi chữ “SUOER” ở phần tay cầm của khóa; 01 thanh kim loại dài khoảng 02 cm được uốn thành hình chữ “U”.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại kiểu dáng Redminote 11, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860359069197746, số IMEI 2: 860359069197753, lắp sim 1 số: 0559673843, lắp sim 2 số: 0559574487.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và xin được nhận mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết P1 đều khai nhận:

Khoảng tháng 7/2023 bị cáo có quen biết với Phạm Văn T1 qua mạng xã hội. Thỉnh thoảng bị cáo và T1 có gặp nhau nói chuyện và T1 dạy cho bị cáo cách nổ máy xe bằng cách sử dụng thanh kim loại đầu chữ U đấu nối điện ở phần đầu xe máy mà không cần khóa xe để mở. Bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Lần đầu tiên vào khoảng 14 giờ ngày 07/9/2023 bị cáo cùng T1 đã cùng nhau trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 90B2 - 531.54 của anh Nguyễn Như Đ không khóa cổ, khóa càng tại ngõ B đường M, quận N, thành phố Hà Nội. Lần thứ hai vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, bị cáo cùng với T1 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 19S1 - 389.11 của anh Nguyễn Thanh B tại ngách A, phố N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội thì bị phát hiện và bị người dân bắt giữ.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: vào ngày 07/9/2023, lợi dụng sự sơ hở, không có chủ sở hữu trông coi, Nguyễn Viết P1 đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS 90B2-531.54 của anh Nguyễn Như Đ tại ngõ B, đường M, phường M, quận N, Hà Nội trị giá 8.000.000 đồng và ngày 08/9/2023 lấy trộm 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, đeo BKS 19S1-389.11 của anh Nguyễn Thanh B trị giá 15.000.000 đồng tại ngách A, phố N, phường P, quận T, Hà Nội. Tổng tài sản mà bị cáo P1 trộm cắp là 23.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Viết P1 đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 239/CT-VKSTX ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

*Về tiền án, tiền sự:

  • - Tiền án: bị cáo không có tiền án.
  • - Tiền sự: bị cáo không có tiền sự
  • - Nhân thân: năm 2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Cướp tài sản. Hiện nay không có hồ sơ lưu trữ về việc chấp hành án phí đối với bản án trên.

*Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo P1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

*Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Viết P1 thành khẩn khai báo, bị hại anh Nguyễn Thanh B có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4 ]Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Như Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 8.000.000 đồng là giá trị của chiếc xe mà bị cáo đã chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá. Xét thấy, đây là yêu cầu bồi thường chính đáng của bị hại. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Như Đ số tiền 8.000.000 đồng.

Cơ quan CSĐT - Công an quận T đã trao trả 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave, BKS 19S1-389.11, số khung RLHJA3925NY403942, số máy JA39E2818065, màu xanh bạc đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Thanh B là chủ sở hữu chiếc xe. Anh B không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết về trách nhiệm dân sự của bị cáo P1 đối với anh Nguyễn Thanh B.

[5] Về hướng xử lý đối với bị cáo: hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức. Do đó, cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên. Xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo Nguyễn Viết P1 ra khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chìa khóa, dạng chìa khóa xe máy, dài khoảng 08cm, có ghi chữ “SUOER” ở phần tay cầm của khóa; 01 thanh kim loại dài khoảng 02 cm được uốn thành hình chữ “U” là tang vật của vụ án bị cáo dùng những đồ vật trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại kiểu dáng Redminote 11, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860359069197746, số IMEI 2: 860359069197753, lắp sim 1 số: 0559673843, lắp sim 2 số: 0559574487 là chiếc điện thoại mà bị cáo đã dùng để liên lạc với bị cáo T1 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác của vụ án: đối với đối tượng Phạm Văn T1, hiện đang bỏ trốn, không có mặt ở nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã tiến hành tách rút các tài liệu liên quan đến T1 để điều tra xử lý sau nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[8] Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và phải chịu án phí về trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự;
  • - Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Viết P1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Viết P1 phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Như Đ số tiền là 8.000.000đ (tám triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về các biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa, dạng chìa khóa xe máy, dài khoảng 08cm, có ghi chữ “SUOER” ở phần tay cầm của khóa; 01 thanh kim loại dài khoảng 02 cm được uốn thành hình chữ “U”.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Redminote 11, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860359069197746, số IMEI 2: 860359069197753, lắp sim 1 số: 0559673843, lắp sim 2 số: 0559574487.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa ngày 28/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Viết P1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo P1 phải chịu 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại (anh Đ) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại (anh B) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Viện KSND quận Thanh Xuân;
  • - Viện KSND thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan điều tra CA quận Thanh Xuân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Lưu VT, HS, VP 7b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Viết P phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger