|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/DS- ST Ngày: 04-01-2024 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng,
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Sử Thị Huyền Trang
- Ông Phan Quang Đáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết D, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp R, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Đặng Thị Bé N, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp R, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp R, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2023 và tại các bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết D trình bày: Tôi có tham gia chơi nhiều chân hụi do bà Đặng Thị Bé N làm chủ hụi, gồm các dây hụi:
- Dây hụi mở ngày 30/10/2021 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần vào ngày 30 hàng tháng, hụi có 30 phần hụi (30 chưng), bà tham gia chơi 02 chưng đến 30/03/2023 (âm lịch) đã đóng cho bà B Năm số tiền không nhớ chính xác nhưng đóng được hụi sống mỗi chưng là 18 lần. Đến thời điểm 30/04/2023 (al), bà Bé N không tổ chức gom tiền hụi và nói là vỡ hụi, bà nhiều lần yêu cầu bà B Năm trả lại phần tiền đã đóng, nhưng bà cứ hẹn không chịu trả lại. Nay yêu cầu bà bà B Năm trả số tiền đã đóng cho 02 chưng hụi đã đóng được 18 lần với số tiền là 18.000.000 đồng x 2 chưng = 36.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 30/05/2021 (âm lịch), hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 02 lần, hụi có 30 phần hụi, bà tham gia 02 phần hụi đến 30/03/2023 (âm lịch) đã đóng cho bà B Năm số tiền bao nhiêu không nhớ chính xác. Đến thời điểm 30/03/2023 (al), bà Bé N không tổ chức gom tiền hụi và nói là vỡ hụi. Nay yêu cầu bà B Năm trả số tiền 02 chưng hụi sống đã đóng được 20 lần với tổng số tiền 10.000.000 đồng x 2 chưng = 20.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 05/10/2020 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, hụi có 30 hụi viên tham gia, bà tham gia chơi 02 chân đến ngày 05/3/2023 (âm lịch) đã đóng cho bà B Năm số tiền bao nhiêu không nhớ chính xác nhưng đóng được hụi sống mỗi chưng là 28 lần. Đến thời điểm 05/03/2023 (al) bà B Năm không tổ chức gom tiền hụi và nói là vỡ hụi. Nay yêu cầu bà B Năm trả số tiền đã đóng 02 chưng hụi sống là 28.000.000 đồng x 2 chưng = 56.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 10/12/2021 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần. Có 33 hụi viên tham gia, bà tham gia chơi 02 chưng đến ngày 10/3/2023 (âm lịch) bà đã đóng cho bà B Năm số tiền bao nhiêu không nhớ nhưng mỗi chưng đóng được 17 lần. Nay yêu cầu bà B Năm trả số tiền đã đóng 02 chưng hụi sống là 17.000.000 đồng x 2 chưng = 34.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 10/9/2020 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần. Có 30 hụi viên tham gia, bà tham gia chơi 01 chưng đến ngày 10/2/2023 (âm lịch) đã đóng cho bà B Năm 28 lần, mỗi lần 1.000.000 đồng. Yêu cầu bà B Năm trả số tiền là 28.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 25/03/2022 (âm lịch), loại hụi 500.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 30 hụi viên tham gia, bà tham gia chơi 04 chưng đến ngày 25/3/2023 (âm lịch). Tôi đã đóng cho bà B Năm số tiền (quy hụi sống sang hụi chết) là 14 lần. Đến thời điềm 25/03/2023(al), bà Bé N không tổ chức gom tiền hụi, và nói là vỡ hụi. Yêu cầu trả lại 14 lần x 4 chưng x 500.000 đồng = 28.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 25/7/2022 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đ mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 32 hụi viên tham gia, bà tham gia chơi 02 chưng đến ngày 25/5/2023 (âm lịch) đã đóng cho bà B Năm số tiền là 10 lần. Nay yêu cầu bà trả lại phần tiền tôi đã đóng 10.000.000 đồng x 2 chưng = 20.000.000 đồng.
Tổng cộng nợ tiền hụi là 221.500.000 đồng. Tuy nhiên, phần hụi chết bà còn nợ bà B Năm của của dây hụi ngày 15/11/2020 (al) là 3.000.000 đồng, hụi ngày 25/3/2022 (al) là 8.000.000 đồng, hụi ngày 10/9/2020 là 4.000.000 đồng; bà nợ tiền hụi thiếu chưa đóng cho bà B Năm là 11.580.000 đồng. Ngoài ra, bà Bé N trả cho bà 03 lần số tiền hụi từ ngày 20/4/2023 (al) đến ngày 20/6/2023 (al) là 15.000.000 đồng, bà đồng ý trừ lại tiền hoa hồng cho bà B Năm trong các dây hụi là 6.750.000 đồng.
Bà Bé N là chủ hụi nhưng chồng là ông Nguyễn Thái H có biết và cũng có gom tiền hụi. Nay bà xác định vợ chồng bà Bé N chỉ còn thiếu bà số tiền nợ hụi là 173.170.000 đồng, yêu cầu vợ chồng bà Bé N, ông H trả số tiền trên cho bà, không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn bà Đặng Thị Bé N trình bày: Bà thống nhất bà Nguyễn Thị Tuyết D có tham gia các dây hụi mà bà làm chủ hụi như sau:
- - Hụi mở ngày 30/10/2021 (âm lịch), loại hụi 1.000.000₫ mỗi tháng khui hụi một lần, có 30 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 02 chưng đã đóng hụi sống được 18 lần, đồng ý thiếu số tiền là 36.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 30/05/2021 (âm lịch), loại hụi 500.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 30 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 02 chưng đã đóng hụi sống được 20 lần, đồng ý thiếu số tiền là 10.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 05/10/2020 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 30 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 02 chưng đã đóng hụi sống được 28 lần, đồng ý thiếu số tiền 56.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 10/12/2021 (âm lịch). Loại hụi 1.000.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 33 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 02 chưng, đóng hụi sống được 17 lần, đồng ý thiếu số tiền 34.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 10/9/2020 (âm lịch). Loại hụi 1.000.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 30 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 01 chưng, đóng hụi sống được 28 lần, đồng ý thiếu số tiền 28.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 25/03/2022 (âm lịch), loại hụi 500.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 30 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 04 chưng, đóng hụi sống được 14 lần, đồng ý thiếu số tiền 28.000.000 đồng.
- - Dây hụi mở ngày 25/7/2022 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng mỗi tháng khui hụi 01 lần, có 32 hụi viên tham gia, bà D tham gia chơi 02 chưng, đóng hụi sống được 10 lần, đồng ý thiếu số tiền hụi là 10.000.000 đồng.
Tổng cộng nợ tiền hụi là 221.500.000 đồng. Tuy nhiên, phần hụi chết bà D còn nợ bà của của dây hụi ngày 15/11/2020 (al) là 3.000.000 đồng, hụi ngày 25/3/2022 (al) là 8.000.000 đồng, hụi ngày 10/9/2020 là 4.000.000 đồng; bà D còn nợ tiền hụi thiếu chưa đóng cho bà là 11.580.000 đồng, bà có trả cho bà 03 lần số tiền hụi từ ngày 20/4/2023 (al) đến ngày 20/6/2023 (al) cho bà D là 15.000.000 đồng, bà yêu cầu trừ lại tiền hoa hồng cho bà trong các dây hụi trên là 6.750.000 đồng. Việc mở các dây hụi này chồng bà là ông Nguyễn Thái H có biết và cùng với bà gom tiền hụi, tiền hoa hồng cũng dùng để chi tiêu cho sinh hoạt gia đình. Nay bà xác định vợ chồng bà chỉ còn thiếu bà số tiền nợ hụi của bà D là 173.170.000 đồng, đồng ý trả số tiền trên nhưng do điều kiện khó khăn xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng, trả cho đến khi dứt nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái H có đơn xin vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 25/12/2023 ông H xác định ông có biết vợ là bà Đặng Thị Bé N có áp hụi trong các dây hụi bà Bé N làm chủ hụi. Nay đình hụi có thoả thuận từng hụi viên hoàn trả cho mọi người trong đó có bà D. Nay vợ chồng ông trả cho bà D mỗi tháng là 2.000.000 đồng, lý do vợ chồng còn thiếu nợ nhiều hụi viên khác nữa.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc vợ chồng bà Bé N, ông H trả số tiền hụi còn thiếu là 173.170.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn bà D khởi kiện bị đơn bà B Năm có nơi cư trú tại ấp R, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Về quan hệ tranh chấp Toà án xác định là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của ông H không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay cả 2 bên nguyên đơn bà D và bị đơn bà B Năm thống nhất hợp đồng góp hụi giữa các bên được xác lập bằng lời nói, hụi có lãi và có hoa hồng, chủ hụi bà N có lập danh sách những người tham gia góp hụi của các dây hụi trên. Việc chơi hụi giữa các bên là có lãi, hoa hồng, mỗi lần khui hụi bà Bé N được nhận tiền hoa hồng nên có trách nhiệm gom hụi giao cho các hụi viên, phần lãi chênh lệch của mỗi lần khui (sổ) hụi do các hụi viên hưởng và chịu. Nay bà D yêu cầu vợ chồng bà Bé N trả cho bà tổng số tiền hụi tiền hụi là 173.170.000 đồng. Bị đơn thừa nhận còn nợ bà D tổng số tiền hụi 173.170.000 đồng, Hội đồng xét xử xác định đây là sự việc đương sự thừa nhận thuộc trường hợp tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 (quy định các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh) của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về việc yêu cầu xin trả dần vốn mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận như nêu ở phần nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 15, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vợ chồng bà Nguyễn Thị Bé N1, ông Nguyễn Thái H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 173.170.000 đồng x 5% = 8.658.500 đồng (làm tròn 8.659.000 đồng)
Hoàn trả cho bà D số tiền tạm ứng án phí là 4.498.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng số 0003044 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 15, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết D về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Buộc bà Đặng Thị Bé N và ông Nguyễn Thái H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết D số tiền nợ hụi là 173.170.000 đồng.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Tuyết D có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Đặng Thị Bé N và ông Nguyễn Thái H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị Tuyết D thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2- Về án phí sơ thẩm:
Buộc bà Đặng Thị Bé N, ông Nguyễn Thái H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là phí là 8.659.000 đồng.
Hoàn trả cho bà D số tiền tạm ứng án phí là 4.498.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng số 0003044 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3- Nguyên đơn bà D, bị đơn bà B Năm có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phượng |
Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Số bản án: 01/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi giữa bà Nguyễn Thị Tuyết Diệu với Đặng Thị Bé Năm
