|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HSST Ngày: 04- 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Ông Nguyễn Nam Tiến
Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 186/2023/HSST, ngày 23/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2023/QĐXXST-HS, ngày 21/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn L (tên gọi khác: Ty); Giới tính: Nam; Sinh năm 1983; Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn 02, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Nh; Mẹ: Huỳnh A; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Hoạt động nhân thân: ngày 21/10/2006 bị Công an huyện Tuy Phong ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng về hành vi “Gây rối đánh nhau, chạy xe lạng lách”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/10/2023, Nguyễn L đi đến khu vực quán “Lẩu H” thuộc thôn V, xã L, huyện Tuy Phong gặp một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua được 06 gói ma túy đá với giá tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn L bỏ 06 gói ma túy đá vào vỏ thuốc lá Jet và mang về nhà cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/10/2023, tại phòng ngủ của nhà Nguyễn L tại thôn 02, xã P, huyện Tuy Phong. Nguyễn L lấy ra 01 gói ma túy đá và đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn L để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Trần Văn Hy đến nhà Nguyễn L chơi. Nguyễn L rủ Hy cùng tham gia sử dụng chung ma túy với Nguyễn L thì Hy đồng ý và cả hai người sử dụng ma túy lần lượt với nhau. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 24/10/2023, Công an huyện Tuy Phong phối hợp với Công an xã P tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Nguyễn L tại thôn 02, xã P, huyện Tuy Phong thì phát hiện bắt quả tang tại phòng ngủ trong nhà của Nguyễn L có Nguyễn L và Hy đang sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ dưới nền nhà trong phòng ngủ tại vị trí Nguyễn L và Hy đang ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh không màu dài 12cm được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng có chất rắn màu nâu vàng (Ống thủy tinh bên trong có chứa chất rắn màu nâu được gỡ khỏi bộ dụng cụ sử dụng ma túy được niêm phong gửi giám định có kí hiệu M1), Nguyễn L khai nhận bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là của Nguyễn L chuẩn bị và chất rắn màu nâu vàng có trong ống thủy tinh thu giữ là ma túy đá của Nguyễn L đang sử dụng thì Hy đến nhà Nguyễn L chơi, Nguyễn L rủ Hy cùng chơi ma túy với Nguyễn L thì Hy đồng ý và sử dụng cho đến khi bị phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ dưới nền nhà trong phòng ngủ tại vị trí phía trước Nguyễn L đang ngồi có 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bên trong gồm có: 03 gói nylon không màu được hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu xanh trong đó có 02 gói kích thước giống nhau khoảng 02cm x1,7cm và 01 gói có kích thước 02cm x02cm (gửi giám định có kí hiệu M2), 01 gói nylon không màu được hàn kín có kích thước 3,3cm x 0,1cm (gửi giám định có kí hiệu M3), bên trong tất cả các gói nylon nêu trên đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Nguyễn L khai nhận 05 gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma túy đá của Nguyễn L cất giấu mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1260/KL - KTHS ngày 01/11/2023 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0746 gam: là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,4796 gam: là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,4317 gam: là Methamphetamine.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 198/CT – VKSTP - HS, 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu cùng với 0,0128 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/1; 03 gói nylon không màu có khóa nẹp viền xanh và 02 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,4670 gam mẫu M2, 0,4207 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/2; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (không có đoạn ống thủy tinh) và 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 21 giờ ngày 24/10/2023, tại thôn 02, xã P, huyện Tuy Phong, Nguyễn L đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, đã cung cấp ma túy và đã rủ rê Trần Văn Hy cùng sử dụng trái phép chất ma túy, ngoài ra Nguyễn L đồng thời tàng trữ 0,9859 gam là Methamphetamine nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng cần xem xét nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Trên cơ sở căn nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, qua đó nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu cùng với 0,0128 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/1; 03 gói nylon không màu có khóa nẹp viền xanh và 02 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,4670 gam mẫu M2, 0,4207 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/2; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (không có đoạn ống thủy tinh) và 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet, đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên ở khu vực quán “Lẩu H” đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Văn Hy có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” cùng với Nguyễn L, Công an huyện Tuy Phong đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật..
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn L 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu cùng với 0,0128 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/1; 03 gói nylon không màu có khóa nẹp viền xanh và 02 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,4670 gam mẫu M2, 0,4207 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1260/2; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (không có đoạn ống thủy tinh) và 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |
5
Bản án số 01/2024/HSST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 01/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 03 năm tù
