Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST
Ngày: 04 - 01 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Hoàng Minh
    2. Ông Trần Quang Vinh
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phiêu.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/QĐXX – ST ngày 20 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị Q: 1974
    Địa chỉ: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
  2. Bị đơn: chị Phạm Thị Thu T 1967
    Địa chỉ: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

    (Chị QThu T1mặt tại toà)

  3. Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn PQ1sinh năm 1972
    2. Ông L
    Cùng địa chỉ: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

    (Ông Q1T1)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cùng bản tự khai, biên bản hoà giải chị Phạm Thị Q1: Do có mối quan hệ quen biết, chị Q2cho chị Phạm Thị T1 T3số tiền gốc là 250.000.000 đồng, chị T1 T4viết biên nhận ngày 22/3/2023. Biên nhận nợ có ghi nội dung: “Tôi tên:Phạm Thị T5TSN 01/01/1967, CCCD [...]. Ngụ ấp D, xã P– ĐT (63) Tôi có nhận của cô Q3tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm chục triệu đồng) đáo nợ ngân hàng TB ngày 22/03/2023, dòng chữ “người nhận”. Theo biên nhận từ phần nội dung đến dòng chữ người nhận là do chị Q4dòng chữ ký “Tư”, chữ Phạm Thị T1 Tódo con của chị T5Tlà anh Lê Văn T2 chị T5TChị Qcho vay lãi suất cho vay 3% tháng, mục đích vay để chị T3 nợ đáo hạng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T vay lại sẽ trả tiền gốc, lãi cho chị Q5khi chị T3 nợ ngân hàng xong và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chuyển nhượng lại cho con trai là anh Lê Văn T2năm 1991, địa chỉ: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Thápvà cho đến nay chị T1 T8không trả tiền gốc, tiền lãi cho chị Q

Chị Q7cầu chị Phạm Thị T1 T9trả cho chị Q3tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật là 1,66%/ tháng, thời gian tính lãi kể từ khi viết biên nhận ngày 22/3/2023 cho đến nay là 08 tháng (250.000.000đồng x 1,66% x 08 tháng = 33.200.000đồng) và yêu cầu tính lãi 1,66%/ tháng cho đến khi Toà án giải quyết xong.

Tại phiên toà chị Q7cầu chị T4 trả số tiền gốc 250.000.000 đồng và yêu cầu chị T1 T10lãi theo quy định pháp luật với mức lãi suất 10%/ năm (0,83%/ tháng), thời gian tính lãi kể từ ngày viết biên nhận nợ cho đến ngày xét xử) 04/01/2024 là 281 ngày.

- Bị đơn chị Phạm Thị T1 T11bày: Do có mối quan hệ quen biết với chị Q, chị T1 T4vay của chị Q3tiền gốc là vay số tiền gốc là 250.000.000 đồng, lãi suất 10%/ tháng, mục đích vay là trả nợ đáo hạn ngân hàng N huyện TThu Tvay tiền của chị Qchị T5 T12ký tên vào biên nhận cho chị Q3. Biên nhận nợ có ghi nội dung “Tôi tên: Phạm Thị T5TSN 01/01/1967, CCCD [...]. Ngụ ấp D, xã P– ĐT (63) Tôi có nhận của cô Q3tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm chục triệu đồng) đáo nợ ngân hàng. TB ngày 22/03/2023, người nhận” Theo biên nhận từ phần nội dung đến dòng chữ người nhận là do chị Q4, dòng chữ ký “Tư”, là do chị T5 T13, chữ Phạm Thị T1 T6do con của chị T1 T6Lê Văn T1viết dùm. Mục đích vay tiền của chị Q9chị T14tiền trả nợ Ngân hàng N Tvà nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng N1 làm thủ tục cấp đổi đến khoảng 15 ngày sau thì chị T5Tmượn tiền của anh T15đem tiền trả cho chị Q10tiền gốc là 250.000.000 đồng, tiền lãi cho 15 ngày với số tiền gốc 250.000.000đồng là 15.000.000 đồng, tổng cộng tôi trả cho bà Q11265.000.000 đồng, chị T3 tiền cho chị Q2mệnh giá 500.000 đồng là 400 tờ, tiền có mệnh giá 200.000 đồng là 250 tờ. Khi chị T3 tiền cho chị Q265.000.000 đồng, do tôi tin tưởng nên chị T1 T16có yêu cầu chị Q12lại biên nhận nợ. Khoảng 20 ngày, sau khi chị T17trả tiền cho chị Q5 đến nhà yêu cầu chị T1 T10250.000.000 đồng, vì là trả rồi nên giữa chị T1 T18chị Q2cự cải qua lại với nhau và phát sinh tranh chấp.

Tại Toà chị Q7cầu chị Phạm Thị T1 T9trả cho chị Q3tiền gốc còn nợ là 250.000.000 đồng và yêu cầu chị T3 lãi theo quy định pháp luật với mức lãi suất 10%/ năm (0,83%/ tháng), thời gian tính lãi kể từ ngày viết biên nhận nợ cho đến ngày xét xử) 04/01/2024 là 281 ngày. Chị T1 T16thống nhất theo yêu cầu của chị Q14đã trả cho chị Q3tiền vay gốc 250.000.000đồng, 15.000.000 đồng tiền lãi xong, hiện nay không còn nợ tiền gì của chị Q

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26, 35 68, Điều 93 đến Điều 97, Điều 195, 196 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 351, 357, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ được thu thập hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà ý kiến của nguyên đơn, của bị đơn, Tòa án nhận định:

[1]. Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Q và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn là chị T1 T12nơi cư trú tại số Ấ, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Thápnên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật: Xét việc chị T1 T3của chị Q số tiền gốc là 250.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, khi vay chị T12viết biên nhận ngày 22/3/2023. là có thật và bị đơn cũng thừa nhận việc vay nợ này, mục đích vay trả nợ đáo hạn ngân hàng, từ ngày vay cho đến nay chị Tó không đóng lãi, trả vốn cho chị Q6 Toà chị Q7cầu chị Phạm Thị T1 T9trả cho chị Q3tiền gốc còn nợ là 250.000.000 đồng và yêu cầu chị T3 lãi theo quy định pháp luật với mức lãi suất 10%/ năm (0,83%/ tháng), thời gian tính lãi kể từ ngày viết biên nhận nợ cho đến ngày xét xử) 04/01/2024 là 281 ngày. Chị T1 T16thống nhất theo yêu cầu của chị Q14đã trả cho chị Q3tiền vay gốc 250.000.000đồng, 15.000.000 đồng tiền lãi xong, hiện nay không còn nợ tiền gì của chị Q16phát sinh “Tranh chấp dân sự Hợp đồng vay tài sản” theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tại Điều 463 ghi: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thảo thuận hoặc pháp luật có quy định”.

[2.1]. Xét việc chị T1 T19rằng đối với số tiền vay gốc 250.000.000 đồng của chị Q17trả nợ đáo hạn ngân hàng N huyện Tđã mượn tiền của con trai là anh Lê Văn T7 để trả cho chị Q7, trả tiền cho chị Q2mệnh giá 500.000 đồng là 400 tờ, tiền có mệnh giá 200.000 đồng là 250 tờ. Việc chị T1 T19rằng đã trả tiền cho chị Q19thoả thuận bằng miệng, không có tài liệu nào chứng minh là chị Q20nhận 265.000.000 đồng từ chị T5T Hơn nữa chị Q21không thừa nhận việc chị T1 T19rằng đã trả 265.000.000 đồng cho chị. Khi thực hiện việc giao kết giữa chị Q8 T21bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết tự nguyện, không trái đạo đức xã hội. Việc bà T8 hiện đúng như giao kết của hai bên, cho thấy đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của mình. Do đó, chị Q7cầu bà T10số tiền vay gốc 250.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận. Đối với lãi suất, tại Toà chị Q22đổi yêu cầu về việc trả lãi, chị Q7cầu bà T1010%/năm (0,83%/tháng) trên số tiền vay từ ngày 22/3/2023 cho đến ngày xét xử là 281 ngày. Cho thấy yêu cầu trả lãi của chị Q23hợp theo quy định pháp luật, nên có cơ sở chấp nhận và được tính như sau: 250.000.000 đồng tiền gốc: 10% / năm : 12 tháng = 0.83%/ tháng: 30 ngày x 281 ngày = 19.435. 365 đồng). Như vậy buộc chị T1 T9trả cho chị Q3tiền gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi 19.435.365 đồng, làm tròn số = 19.435.000 đồng, tổng cộng 269.435.000 đồng (Hai trăm sáu mười chín triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định là phù hợp 351, 357, 463, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3]. Bị đơn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 351, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Q9

  1. Buộc chị Phạm Thị T1 T9trả cho chị Phạm Thị Q10 gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 04/01/2024 là 19.435.000 đồng, tổng cộng tiền gốc, lãi là 269.435.000 đồng (Hai trăm sáu mười chín triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 04/01/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Phạm Thị T1 T9chịu án phí dân sự sơ thẩm 13.471.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

    Chị Phạm Thị Q11 chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị Q27đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002068 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/01/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện TB;
  • - Chi cục THADS Huyện TB;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ & Văn Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa

đã ký

Nguyễn Thị Kim Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 01/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc chị Phạm Thị T1 T9trả cho chị Phạm Thị Q10 gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 04/01/2024 là 19.435.000 đồng, tổng cộng tiền gốc, lãi là 269.435.000 đồng (Hai trăm sáu mười chín triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger