Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày: 04/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và bà Vũ Thị Thuý

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tráng – Kiểm sát viên

Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Uỷ ban nhân dân xã Thuỵ Sơn, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 183/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXX-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/6/1985. Nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện T, tỉnh B. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1959 đều trú tại thôn L, xã X, huyện T, tỉnh B.Vợ: Nình Thị Th, sinh năm 1984, hiện trú tại xã X, huyện T, tỉnh B; Bị cáo có 02 con đều sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2023 đến ngày 09/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình- Có mặt tại phiên toà

* Người chứng kiến:

  • Ông Vũ Trung B, sinh năm 1985 – Vắng mặt
  • Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973 – Vắng mặt

Đều có địa chỉ: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/10/2023, bị cáo Nguyễn Anh T đi đến khu vực cầu Trà Lý thuộc địa phận xã Thái Thọ, huyện Thái Thụy để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và mua được 03 gói ma túy loại heroin với giá 300.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất 03 gói ma túy vào túi quần bên phải, phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông về đến khu vực ngã tư Cầu Cau, thuộc xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy xuống xe tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an xã Thụy Thanh phối hợp với Công an xã Thái Hưng làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường ĐH87 gần Cầu Cau, thuộc thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Vũ Trung B và bà Nguyễn Thị Ch, bị cáo đã tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 03 gói đều được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, mở ra bên trong cả 03 gói đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bị cáo khai đó là 03 gói ma túy, loại heroin mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người bị cáo nhưng không phát hiện thu giữ gì khác. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng đồng thời đưa bị cáo và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã Thái Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Ngày 03/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không phát hiện thu giữ gì.

- Kết luận giám định số 1503/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: "Vật chứng gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,3209 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm linh chín gam). Heroin STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”

Cáo trạng số 183/CT-VKSTT ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 1 năm 6 tháng đến 1 năm 9 tháng tù giam; Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy đã thu giữ.

Tại phiên tòa bị cáo khai do nghiện ma túy nên ngày 02/10/2023, bị cáo đã đi đến khu vực cầu Trà Lý, thuộc địa phận xã Thái Thọ mua 300.000 đồng ma tuý, lại Heroine về sử dụng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất 03 gói ma túy vào túi quần bên phải, phía trước đang mặc rồi đi về đến khu vực ngã tư Cầu Cau, thuộc xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy xuống xe tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị phát hiện. Trước sự chứng kiến của người làm chứng, công an đã lập biên bản đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì cáo trạng, tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn tàng trữ loại Heroine có khối lượng 0,3209 gam để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định 1503/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, lời khai của người chứng kiến là ông Vũ Trung B bà Nguyễn Thị Ch cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

    c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine,Amphetamine,MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

    d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

    đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

    e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

    g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

    h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

    i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội 02 lần trở lên;

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

    e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

    g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

    h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

    i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

    k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

    l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

    m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililit;

    n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

    o) Tái phạm nguy hiểm.

  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

    a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

    b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

    c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

    d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

    đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

    e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

    g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

    h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

  4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

    b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

    c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

    d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

    đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

    e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

    g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

    h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

[4] Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm tiêu hao tài sản, suy thoái phẩm chất đạo đức và là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác trong xã hội, là hành vi pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và lượng ma tuý tàng trữ thấy cần áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt tù giam với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có nhân thân tốt nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Số lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi đã lấy mẫu giám định còn lại 0,2600 gam trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định Kết luận giám định số 1503/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hiện do Chi cục Thi hành dân sự huyện Thái Thụy quản lý theo quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;

[6] Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Nguyễn Anh T khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực cầu Trà lý thuộc địa phận xã Thái Thọ, huyện Thái Thụy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 1 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 03/10/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,2600 gam ma tuý, loại Heroine và toàn bộ bao gói thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh T trong phong bì hoàn trả mẫu vật Kết luận giám định số 1503/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hiện do Chi cục Thi hành dân sự huyện Thái Thụy quản lý

(Các vật chứng, tài sản trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và và Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).

4.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
  • - Công an huyện Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - UBND xã Thái Đô
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger