TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 01 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nhất.
Ông Lê Hồng Thức.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Huyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc: “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1960. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà C L, khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1979. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà C L, khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Phạm Hồng T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và chị Hà Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/7/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên hay xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống ngột ngạt. Nay ông thấy thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản và công nợ: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Hà Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và ông T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/7/2021. Thực tế, chị và ông T sống chung với nhau từ năm 2019 nhưng đến năm 2021 mới đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T chơi bời không quan tâm tới gia đình, ông T còn ngoại tình với người con gái khác. Đến thời điểm hiện tại, chị cũng xác định không còn tình cảm với ông T, chị cũng không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông T. Từ khi chị về ở cùng nhà với ông T vào tháng 10/2019. Cuộc sống của chị chỉ như một người ở cùng và giúp việc cho trong nhà cho ông T. Bình thường người giúp việc có thu nhập mỗi tháng khoảng 4.000.000 đ - 5.000.000 đ. Vì vậy bây giờ ông T muốn ly hôn thì chị yêu cầu ông T phải trả cho chị mỗi tháng 2.000.000 đ, kể từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2023 là 48 tháng bằng 96.000.000 đ là tiền công giúp việc cho ông T trong thời gian sống chung với nhau. Nếu ông T đưa tiền cho chị ngay thì chị mới đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2023, Trưởng khu phố C cho biết: Ông Phạm Hồng T và chị Hà Thị H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, ông T và chị H không có con chung. Quá trình chung sống tại địa phương, vợ chồng có mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm được, vì địa phương chưa có lần phải đứng ra để hòa giải về mâu thuẫn của vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Hồng T đối với chị Hà Thị H, miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông T. Không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc buộc ông T phải trả cho chị 96.000.000 đ tiền công chị giúp việc cho ông T trong thời gian vợ chồng sống chung với nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn là ông Phạm Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn là chị Hà Thị H có địa chỉ tại: Số nhà C L, khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1] Về nội dung:
[1.1] Về hôn nhân: Ông Phạm Hồng T và chị Hà Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/7/2021, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa ông T và chị H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông T cho rằng vợ chồng không hợp nhau và hay xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, nay ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn. Chị H thì cho rằng ông T chơi bời không quan tâm tới gia đình, ông T còn ngoại tình với người con gái khác, chị sống cùng với ông T chỉ như một người giúp việc trong nhà. Đến thời điểm hiện tại, chị cũng xác định không còn tình cảm với ông T, chị cũng không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông T. Như vậy chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của ông T, xử cho ông Phạm Hồng T được ly hôn với chị Hà Thị H là phù hợp.
[1.2]Đối với yêu cầu của chị Hà Thị H, yêu cầu ông T phải thanh toán cho chị khoản tiền giúp việc trong thời gian sống chung bằng 2.000.000 đ/tháng trong 48 tháng. Tổng cộng là 96.000.000 đ vì chị cho rằng thời gian chị sống chung với ông T từ năm 2019 đến nay chỉ như một người giúp việc trong nhà, trong khi lương của một người giúp việc bình thường mỗi tháng khoảng 4.000.000 đ - 5.000.000 đ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Như vậy, việc chia sẻ cùng nhau các công việc trong gia đình là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, không phải của riêng ai, đó là tiền đề rất quan trọng để xây dựng nền tảng hạnh phúc gia đình cũng như cuộc sống hôn nhân bền vững. Do đó yêu cầu của chị H về việc ông T là chồng chị phải thanh toán một khoản tiền cho chị với lý do chị phải làm các công việc trong gia đình như một người giúp việc cho ông T là không có căn cứ.
[1.3] Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[1.4] Về tài sản chung và công nợ của vợ chồng: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về án phí: Ông T là thương binh hạng 2/4 (61%), nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông T.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 19; Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Xử cho ông Phạm Hồng T được ly hôn với chị Hà Thị H.
Không chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị H về việc buộc ông T phải trả cho chị số tiền 96.000.000 đ tiền công giúp việc trong thời gian chị sống chung với ông T.
- Về con chung: Không xem xét
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Hồng T.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Ngọc Công |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dtjhrth
