Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ HUOAI

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Anh Tuấn

Ông Trịnh Hữu Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Mộng Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 07/TB-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Đức Mèo; sinh ngày 24/7/1992, tại Ninh Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà C, đường L, tổ dân phố E, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1952 và con bà Lê Thị C, sinh năm 1954, hiện cư trú tại: Xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vợ Đoàn Kim D, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố E, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Nhân thân:

  • Ngày 14/8/2014 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”.
  • Ngày 29/12/2022 bị TAND huyện Đạ Huoai tuyên phạt 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 26/2022/HS-ST.
  • Ngày 16/02/2023 bị Công an huyện B, tỉnh Lâm Đồng khởi tố về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

2. Họ và tên: Hứa Thanh P; sinh ngày 10/8/1991, tại Lâm Đồng, nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn B (nay là Tổ dân phố A), T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Hứa Anh L và con bà Phạm Thị T (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1990, hiện trú tại: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021.

- Tiền án: Không có.

- Tiền sự: Ngày 29/12/2010 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ, theo quyết định xử phạt số 17/HC ngày 29/12/2010 – Đã nộp phạt xong ngày 04/01/2023.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2023 đến ngày 30/5/2023, từ ngày 01/6/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

3. Họ và tên: Trương Minh Q; tên gọi khác: Beo; sinh ngày 17/11/2000, tại Lâm Đồng, nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn E, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông Trương Văn G, sinh năm 1976 và con bà Đinh Thị N, sinh năm 1983, hiện cả hai làm nông và ở tại: Thôn E, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không có.

- Tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2022 bị Công an thị trấn Đ xử phạt hành chính số tiền 400.000đ về hành vi “Gây rối an ninh trật tự tại khu dân cư”, theo quyết định xử phạt số 29/QĐ ngày 15/7/2022, chấp hành ngày 05/8/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi cư trú từ ngày 18/4/2023 đến ngày 30/5/2023, từ ngày 01/6/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

4. Họ và tên: Lê Hữu T2; tên gọi khác: N1; sinh ngày: 20/01/2000, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lê Hữu T3, sinh năm 1977 và con bà Lê Thị Ngọc T4, sinh năm 1979, hiện cả hai làm nông và ở tại: Thôn A, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 29/6/2017 bị TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt tù có thời hạn 3 năm 6 tháng về tội “Giết người” tại bản án số 327/HSPT ngày 29/06/2017 – Đã chấp hành hình phạt tù ngày 21/12/2019.

- Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi cư trú từ ngày 18/4/2023 đến ngày 30/5/2023, từ ngày 01/6/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

5. Họ và tên: Đinh Huy H; sinh ngày 10/11/2001, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Xuân C1, sinh năm 1972 và con bà Ngô Thị Ngọc P1, sinh năm 1979, hiện cả hai làm nông và ở tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không có.

- Tiền sự: Có 02 tiền sự:

  • + Ngày 16/01/2023 bị Công an thị trấn Đ xử phạt hành chính số tiền 4.000.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, theo quyết định xử phạt số 03/QĐ -XPHC.
  • Nhân thân: Ngày 19/6/2020 bị Chủ tịch UBND thị trấn Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi dùng tay đánh vào mặt người khác, theo quyết định xử phạt số 37/HC ngày 19/6/2020.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi cư trú từ ngày 18/4/2023 đến ngày 30/5/2023, từ ngày 01/6/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

6. Họ và tên: Hoàng Nguyễn Trung N2; sinh ngày 30/4/2001, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Hải O, sinh năm 1976 và con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974, hiện cả hai làm nông và ở tại: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Châu Thanh T5, sinh năm 2001, hiện lao động tự do ở tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2023 cho đến nay tại Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

7. Họ và tên: Ngô Phúc Đ2; sinh ngày: 16/9/2002, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: số nhà A, đường B, tổ dân phố C, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam. dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Ngô Duy V, sinh năm 1977 và bà Phan Thị Ngọc Y, sinh năm 1984, hiện cả hai làm nông và ở tại: Tổ dân phố C, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2023 cho đến nay tại TDP C, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

· Người bị hại:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Đ; sinh ngày 24/7/1992; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: số nhà C, đường L, tổ dân phố E, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Họ và tên: Đinh Huy H; sinh ngày 10/11/2001; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Đ huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Họ và tên: Hoàng Nguyễn Trung N2; sinh ngày 30/4/2000; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  4. Họ và tên: Võ Trường G1, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

  1. Chị Đoàn Kim D, sinh năm 1989; nơi cư trú: số nhà C, đường L, tổ dân phố E, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. địa chỉ liên lạc hiện nay: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  2. Anh Nguyễn Lê N3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  3. Anh Võ Trường G1, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  5. Anh Nguyễn Song C2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  6. Anh Nguyễn Quốc H2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  7. Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  8. Anh Hà Việt D1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố F, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  9. Anh Nguyễn Thanh T7, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố B, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  10. Ông Trịnh T8, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ dân phố B, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  11. Anh Đào Anh D2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  12. Chị Lê Thị Tường V1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 21/12/2022, tại khu vực trước nhà Hứa Thanh P thuộc Thôn B, T (nay là TDP A, T) xảy ra vụ rượt đuổi đánh chém và bắn nhau giữa hai băng nhóm của Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác là Đức M) và nhóm của Hứa Thanh P. Hai người trong nhóm của P gồm Đinh Huy HHoàng Nguyễn Trung N2 bị Nguyễn Văn Đ dùng súng bắn bị thương nên đã làm đơn trình báo với Cơ quan Công an. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập những người liên quan trong vụ việc đến trụ sở để làm rõ nội dung cụ thể như sau:

Do có mâu thuẫn cá nhân với Lê Hữu T2 (T2) nên Nguyễn Văn Đ (Đ) đã rủ thêm 04 người bạn quen biết ngoài xã hội (chưa rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) đi tìm T2 để đánh. Trước khi đi, Đ mang theo 01 khẩu súng rulo, lấy dao rựa phát đưa cho đồng bọn sau đó lên ô tô BS: 15A-837.73 để đi tìm T2. Đ gọi điện thoại cho Hà Việt D1 để xin số điện thoại của Hứa Thanh P (P) (vì biết T2 hay ở nhà P), đồng thời Đ nói cho D1 biết về việc Đ kéo người xuống nhà của P để đánh T2. Nghe vậy, D1 liền gọi điện thoại báo cho P nhưng không liên lạc được với P nên gọi điện nói cho T2 biết nhóm Đ đang kéo xuống nhà của P. Thời điểm này, T2 đang ở nhà nghỉ T11 (T) cùng với Đinh Huy H (H), Hoàng Nguyễn Trung N2 (N2), Trương Minh Q (Q)Ngô Phúc Đ2 (Đ2) nên nói lại cho cả nhóm biết việc nhóm của Đ sẽ kéo xuống nhà của P để giải quyết mâu thuẫn. Nghe xong, T2 cùng Q và H mỗi người đi 01 xe máy chạy xuống nhà của P để đánh nhau với nhóm của Đ, còn Đ2 và N2 vẫn ở lại nhà nghỉ. Q mang theo 01 khẩu súng hơi, H mang theo 01 con dao phát. Tại nhà P, sau khi nghe H kể lại sự việc, P vào nhà lấy 01 con dao phát để chuẩn bị đánh lại nhóm của Đức M. Khi nhóm Đ đến thì xảy ra cãi vã và chửi nhau trước sân nhà của P. Về phía Đ2 và N2 trong khi đang ở nhà nghỉ ToNy thì nghe D1 điện thoại nói nhóm Đ đang đánh nhau với nhóm của T2 nên cả hai chở nhau đến nhà D1 để rủ D1 cùng đi nhưng D1 không có ở nhà. Nguyên vào nhà D1 lấy 01 thanh kim loại còn Đ2 lấy 01 con dao phát rồi chở nhau đến nhà P. Khi hai nhóm đang thách thức nhau, nhóm Đ nhìn thấy Đ2 và N2 đi xe máy đến, trên tay cầm tuýp sắt và dao phát nên Đức M cầm súng cùng cả bọn cầm dao rựa phát quay ra rượt đuổi Đ2 và N2, đồng thời nhóm của P phía trong nhà cũng cầm dao phát chạy ra đường để đuổi đánh nhóm của Đ. Quá trình rượt đuổi, Đ dùng súng rulo bắn một phát trúng chân của H và một phát trúng vào chân của N2. Q cũng dùng súng hơi bắn 02 phát trúng vào chân của Đ. Còn các đối tượng còn lại mang theo dao rựa, tuýp sắt rượt đuổi đánh nhau, chửi bới lẫn nhau gây mất trật tự trị an tại khu dân cư.

Trong quá trình Cơ quan điều tra đang tiến hành khởi tố, điều tra vụ án nói trên thì vào chiều tối ngày 01/5/2023, Q tiếp tục có hành vi dùng hung khí là dao rựa phát đuổi chém người khác gây thương tích, cụ thể:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/5/2023, Phạm Văn H1Võ Trường G1 cùng ngồi nhậu tại TDP A, T thì xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại dẫn đến xô xát bằng tay không với nhau nhưng chưa gây thương tích gì. G1 bỏ đi về nhà anh rể là Đào Anh D2, H1 cũng đi về nhà của mình. Do cay cú, bực tức việc G1 đánh mình nên H1 đã điện thoại kể lại sự việc cho Nguyễn Song C2, C2 lúc này

đang ngồi nhậu cùng với Nguyễn Quốc H2Q. Sau đó H1 rủ C2 đi đánh G1 trả thù thì cả ba đồng ý rồi cùng đến nhà H1. Trên đường đi, C2 có nhặt 01 khúc cây gỗ dài khoảng 1m làm hung khí đánh nhau. Hợp vào nhà lấy 01 con dao rựa phát dài khoảng 90 cm đưa cho Q cầm rồi cả 04 người đi xe máy đến nhà D2 để đánh G1. H1 đi vào trong nhà anh D2 tìm G1 và được D2 can ngăn nhưng H1 không chịu. Về phía G1 khi thấy nhóm của H1 đến liền đi vào bếp lấy 01 con dao dài khoảng 30cm đi ra phòng khách, lúc này H1 lao vào dùng tay phải đấm một cái vào vùng ngực trước của G1, Q cầm con dao rựa phát ở trên bằng cả hai tay chém 01 phát trúng vào vùng bàn tay trái, 01 phát trúng vào vùng căng tay trái, 01 phát trúng vào vùng cánh tay phải và 01 phát trúng vào vùng hông trái của G1; C2 cầm khúc cây gỗ cứng quật 01 phát trúng vào vùng lưng phải và 01 phát trúng vào vùng vai phải của G1, riêng H2 chỉ dùng tay phải đấm hai cái vào vùng mặt của G1 sau đó ôm giữ G1 lại từ phía sau để cho Q chém thêm một phát trúng vào vùng mặt trong gối trái của G1, C2 vụt quật thêm một phát trúng vào vùng đỉnh đầu của G1. Anh G1 vùng vẫy chạy thoát được sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu, nhóm của Q cũng bỏ về nhà H1, H1 cất giữ con dao sau đó ai về nhà người đó.

* Kết quả trưng cầu giám định:

  • Kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 01/3/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh L kết luận: Khẩu súng dài có kích thước tổng thể 26cm x 73,5cm gửi giám định (là khẩu súng của Trương Minh Q sử dụng bắn Nguyễn Văn Đ) không phải là vũ khí quân dụng (là súng hơi thuộc danh mục súng săn); Hai (02) vật kim loại dạng hình nấm, màu xám ký hiệu lần lượt là A1, A2 gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng (là đạn chì hình nấm cỡ 6,35mm và hai viên đạn này sử dụng được cho khẩu súng gửi giám định kèm theo).
  • Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh L kết luận: 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, hộp tiếp đạn hình trụ tròn, kiểu ổ xoay tròn, trên thân súng dập số (0819000005), kích thước tổng thể 12cm x 17cm gửi giám định (là khẩu súng của Nguyễn Văn Đ sử dụng bắn Đinh Huy HHoàng Nguyễn Trung N2) là súng ổ quay, thuộc công cụ hỗ trợ.
  • Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 442/KLTTCT-PYLĐ ngày 08/09/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Nguyễn Trung N2 tại thời điểm giám định là 2% (Hai phần trăm).
  • Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 457/KLTTCT-PYLĐ ngày 08/09/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 4% (Bốn phần trăm).
  • Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 439/KLTTCT-PYLĐ ngày 08/09/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Huy H tại thời điểm giám định là 2% (Hai phần trăm).
  • Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 334/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 07/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Trường G1 tại thời điểm giám định là: 8% (T9 phần trăm).

* Về vật chứng của vụ án:

- Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng trong vụ án ngày 21/12/2022 gồm:

  • 01 khẩu súng màu đen, dài 73,5cm, phần cao nhất của súng là 26cm, phần đuôi của khẩu súng được gắn một bình hơi dạng khí nén bằng kim loại, phần phía trên của khẩu súng được gắn một ống nhòm bằng kim loại, dài 33,5cm, trên thân khẩu súng in nhãn hiệu AIRFORCE. Đây là khẩu súng Trương Minh Q sử dụng bắn Nguyễn Văn Đ, sau khi giao nộp được niêm phong theo quy định.
  • 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, hộp tiếp đạn hình trụ tròn, kiểu ổ xoay tròn, trên thân súng dập số (0819000005), tổng chiều dài khẩu súng là 17cm; 01 (một) viên kim loại hình trụ (dạng viên đạn) dài 0,9cm, đường kính 0,5cm; 01 ( một ) viên kim loại đã biến dạng không rõ hình thù, dài 0,9cm. Đây là những vật chứng do Đoàn Kim D (là vợ của Nguyễn Văn Đ) tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra và khai nhận: khẩu súng là của Nguyễn Văn Đ sử dụng sáng ngày 21/12/2022, còn 02 viên đạn là do Đ bị bắn vào sáng gày 21/12/2022.
  • 01 (một) con dao rựa phát dài 01m, phần cán dao làm bằng gỗ tròn dài 70cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 30cm, một cạnh của lưỡi dao được mài sắc. Đây là hung khí Hứa Thanh P giao nộp. (BL 191).
  • 01 (một) thanh kim loại, tiết diện vuông, thiết diện vuông 3cm x 3cm x 3cm x 3cm, rỗng bên trong, dài 149,5cm. Đây là hung khí Hoàng Nguyễn Trung N2 giao nộp.
  • 01 (một) con dao rựa phát dài 90cm, cán làm bằng gỗ dài 50cm, lưỡi dao dài 40cm. Đây là hung khí Đinh Huy H giao nộp.
  • 01 (một) thiết bị lưu trữ USB màu đen bên trong có chứa đoạn video-clip hai nhóm rượt đuổi đánh chém và bắn nhau sáng ngày 21/12/2022, do ông Nguyễn Lê N3 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

- Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng trong vụ án ngày 01/5/2023 gồm:

  • 01 con dao rựa dài 87,5cm, cán dao làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm, một cạnh sắc, mũi dao bằng, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 5,7cm.
  • 01 con dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, một cạnh sắc, mũi dao nhọn, trên thân lưỡi dao có dòng chữ PM0702, cán dao bằng gỗ màu đen dài 13,5cm, phần giữa cán dao làm bằng gỗ màu đen, đầu và đuôi cán dao làm bằng kim loại màu trắng, phần rộng nhất của con dao dài 4,5cm.
  • + 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng 01 USB màu trắng có dung lượng 16GB, hiệu DTSE9 chứa dữ liệu về vụ việc đánh, chém nhau tối ngày 01/5/2023 tại nhà D2.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

- Những người bị hại gồm: Nguyễn Văn Đ, Đinh Huy H, Hoàng Nguyễn Trung N2Võ Trường G1 - Là những người bị thiệt hại về sức khỏe nhưng có đơn không yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự, không yêu cầu bồi thường gì đối với người gây ra thương tích cho mình.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS-ĐH ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai để xét xử đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Đ, Đinh Huy H, Hứa Thanh P, Ngô Phúc Đ2, Trương Minh Q, Hoàng Nguyễn Trung N2Lê Hữu T2, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Các bị cáo Đ, H, P, Đ2, Q, N2T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án.

Tại phiên tòa các bị cáo Đ; H, N2 có yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại; các anh, chị Nguyễn Lê N3, Đoàn Kim D, Phạm Văn H1, Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2 không có yêu cầu gì trong vụ án

Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người làm chứng có mặt tại phiên Tòa xác định hành vi của các bị cáo nêu trong cáo trạng là đúng và không có yêu cầu gì trọng vụ án này. Đề nghị Hội đồng xét xử vụ án giải quyết theo quy định.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tuyên bố tội danh và mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đinh Huy H, Hứa Thanh P, Ngô Phúc Đ2, Trương Minh Q, Hoàng Nguyễn Trung N2Lê Hữu Trọng phạm t “Gây rối trật tự công cộng”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hứa Thanh P từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trương Minh Q từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Hữu T2 từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đinh Huy H từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Nguyễn Trung N2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Ngô Phúc Đ2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

2. Về xử lý vật chứng:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự vật chứng là công cụ, phương tiện mà các bị cáo phạm tội và không còn giá trị sử dụng hoặc tài sản thu nhưng không còn giá trị, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định.

+ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự vật chứng có liên quan 02 (hai) USB. Đây là chứng cứ trực tiếp có liên quan đến vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

3. Đối với hành vi của những người liên quan trong vụ án đã được giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5. Về đề nghị, kiến nghị: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào kết quả xét hỏi và yêu cầu của người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xác định lại tư cách tham gia tố tụng theo

đúng quy định của pháp luật. Cụ thể tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn Đ; Đinh Huy H, Hoàng Nguyễn Trung N2 có yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm hại; các anh, chị Nguyễn Lê N3, Đoàn Kim D, Phạm Văn H1, Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2 không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do vậy,xác định Nguyễn Văn Đ; Đinh Huy H, Hoàng Nguyễn Trung N2 và anh Võ Trường G1 là người bị hại; các anh, chị Nguyễn Lê N3, Đoàn Kim D, Phạm Văn H1, Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2 là người làm chứng là đúng quy định.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXX-HS ngày 07/12/2023. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Võ Trường G1, chị Nguyễn Thị T6, anh Hà Việt D1, anh Đào Anh Dũng, chị Lê Thị Tường V1 tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng những người này vắng mặt nhưng việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo. Căn cứ vào Điều 292; 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.

Về hành vi gây thương tích: Quá trình giải quyết vụ án người bị hại rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan điều tra đã đình chỉ điều tra hoặc người bị hại không yêu cầu khởi tố nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Về xác định tội danh:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, phương thức cũng như công cụ, vật chứng, phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng để thực hiện tội phạm. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định:

Do mâu thuẫn cá nhân giữa ĐT2 nên vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 21/12/2022, Đ mang theo 01 khẩu súng (được giám định là súng ổ quay, thuộc công cụ hỗ trợ) và lấy thêm dao rựa phát đưa cho 04 đối tượng mà Đ quen biết ngoài xã hội (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch cụ thể), sử dụng chiếc xe ô tô biển số 15A-837.73 (Đ khai của Trần Văn V2 đang gửi để ở nhà Đ) cùng đến nhà của Hứa Thanh PTDP A, T để trả thù. Tại đây, Đ dùng súng bắn trúng 02 người trong nhóm của P gồm HN2, kết quả giám định xác định tỷ lệ thương tích của cả hai là 2% (hai phần trăm). Về phía nhóm của P cũng dùng gậy sắt, dao rựa phát để rượt đuổi và chống trả lại nhóm của Đ. Q sử dụng 01 khẩu súng (được giám định là súng hơi bắn đạn chì thuộc danh mục súng săn và không phải là vũ khí quân dụng) bắn trúng 02 phát trúng vào chân của Đ gây thương tích với tỷ lệ 4% (bốn phần trăm). Đối với hành vi gây thương tích của Đ cho người bị hại là các bị cáo HN2 nhưng người bị hại HN2 không yêu cầu

khởi tố vụ án; Đối với hành vi gây thương tích của Q cho bị cáo Đ nhưng ngươi bị hại Đ cũng không yêu câu khởi tố vụ án nên Cơ quan điều tra không khởi tố các bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích. Tuy nhiên hành vi các bị cáo gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cần thiết phải xem xét theo đúng quy định.

Ngày 01/5/2023, do mâu thuẫn cá nhân với anh Võ Trường G1 nên Phạm Văn H1 đã rủ Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2Q tìm đánh G1. Q đã sử sụng 01 con dao rựa phát phát chém anh Võ Trường G1 gây thương tích 8% (tám phần trăm). Ngày 02/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Văn H1, Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2Trương Minh Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, anh Võ Trường G1 đã có đơn không yêu cầu xử lý bằng pháp luật hình sự đối với Phạm Văn H1, Nguyễn Song C2, Nguyễn Quốc H2Q nên ngày 30/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 10 và các Quyết định đình chỉ điều tra số 01, 02, 03 và 04 đối với các bị can. Riêng đối với Q, do trước đó vào ngày 15/7/2022, Q bị Công an thị trấn Đ xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối an ninh trật tự tại khu dân cư”. Nên ngày 03/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 26 và Quyết định khởi tố bị can số 38 đối với Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Ngày 10/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai đã ra Quyết định nhập vụ án hình sự đối với vụ án ngày 21/12/2022 và vụ án ngày 01/5/2023 để truy tố theo quy định.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, cáo trạng số 18/CT-VKS-ĐH ngày 16 tháng 11 năm 2023 truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người dân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong đông đảo quần chúng nhân dân. Các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội công khai ngay tại khu vực tập trung dân cư đông đúc, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo. Việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo gây ra không chỉ nhằm mục đích trừng trị, giáo dục người phạm tội mà còn để phòng ngừa tội phạm nói chung. Do vậy, cần thiết phải ra một bản án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[5] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:

Về nhân thân:

+ Đối với các bị cáo Đ; P; Q; T2H đều có nhân thân xấu. Do vậy, cần xem xét khi lượng hình đối với từng bị cáo, cụ thể:

Bị cáo Đ đã từng bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác; ngày 29/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai xử phạt 60.000.000 đồng về tội Đánh bạc; tiếp đến ngày 16/02/2023 bị Công an huyện B khởi tố về tội Tổ chức đánh bạc và tội đánh bạc.

Bị cáo P có 01 tiền sự: Ngày 29/12/2010 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ.

Bị cáo Q có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2022 bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối an ninh trật tự tại khu dân cư mới chấp hành xong ngày 05/8/2022.

Bị cáo T2 có 01 tiền án: Ngày 29/6/2022 bị TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt tù có thời hạn 3 năm 6 tháng về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số 327/PT ngày 29/06/2017 – Đã chấp hành.

Bị cáo H có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2022 bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối an ninh trật tự tại khu dân cư mới chấp hành xong ngày 05/8/2022.

Ngoài ra, Ngày 19/6/2020 bị Chủ tịch UBND thị trấn Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi dùng tay đánh vào mặt người khác, theo quyết định xử phạt số 37/HC ngày 19/6/2020.

+ Đối với các bị cáo N2, Đ2 có nhân thân tốt.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo có cùng hành vi dùng vũ khí, hung khí gây rối trất tự công cộng tại khu vực dân cư đông người làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên phải bị xét xử tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình Điều tra - truy tố - xét xử các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết “thành khẩn khai báo”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa sơ thẩm bị cáo N2 đồng thời cũng là người bị thiệt hại về sức khỏe do hành vi trái pháp luật của bị cáo Đ gây ra có đơn yêu cầu bồi thường về thiệt hại sức khỏe. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường cho bị cáo N2. Đồng thời bị cáo N2 cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo Đ được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tương tự: Bị cáo Đ đồng thời cũng là người bị thiệt hại về sức khỏe do

hành vi trái pháp luật của các bị cáo của nhóm Q gây ra có đơn yêu cầu bồi thường về thiệt hại sức khỏe. Bị cáo N2, bị cáo Đ2 đồng ý bồi thường cho bị cáo Đ. Đồng thời bị cáo Đ cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N2, Đ2. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo N2, Đ2 được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Q có ông nội là ông Trương Văn B được Nhà nước tặng tặng huân chương kháng chiến hạng II; bị cáo Lê Hữu T2 có ông nội Lê Hữu T10 được Nhà nước tặng Huân chương hạng nhất, có bà nội Nguyễn Thị H3 được phong tặng là Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng; bị cáo H có ông nội Đinh Hữu N4 và bà nội Đinh Thị L2 được tặng huân chương kháng chiến hạng III; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Q, HT2 được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Các bị cáo khác, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên Tòa sơ thẩm không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh là có người thân thích có công với cách mạng, là Liệt sỹ... nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đánh giá mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo để xem xét quyết định hình phạt thì thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn.

+ Đối với bị cáo Đ: Trong vụ án này bị cáo đóng vai trò chủ mưu, khởi xướng; là người trực tiếp chuẩn bị các vũ khí, hung khí để đi đánh nhau, bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo Q có nhân thân xấu, đồng thời bị cáo phạm tội nhiều lần và là người trực tiếp gây thương tích cho nhiều người; bị cáo T2 có tiền án về tội giết người chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục tái phạm nguy hiểm. Do vậy, mức án của các bị cáo Đ, QT2 là nghiêm khắc nhất so với các bị cáo còn lại trong vụ án, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

+ Đối với các bị cáo Hứa Thanh PĐinh Huy H đều có nhân thân xấu nên mức án của 02 bị cáo là bằng nhau nhưng sẽ nhẹ hơn mức án của bị cáo Đ, T2 và bị cáo Q là phù hợp.

+ Đối với các bị cáo N2Đ2 là người tham gia với vai trò thứ yếu nên mức hình phạt sẽ là nhẹ nhất.

Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Đ; P; Q; T2; H. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với bị cáo Đ2, N2 đáng lẽ ra cũng xử phạt bằng hình phạt tù giam để răn đe. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu; các bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh,

trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, bị cáo N2 đang là sinh viên đang theo học tại Trường Đại học V3. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đã đủ sức răn đe đối với các bị cáo. Đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (nhóm vật chứng là công cụ, phương tiện mà các bị cáo phạm tội và không còn giá trị sử dụng hoặc tài sản thu nhưng không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy) gồm: 01 (một) khẩu súng màu đen, dài 73,5cm, phần cao nhất của súng là 26cm. Đây là khẩu súng Trương Minh Q sử dụng bắn Nguyễn Văn Đ; 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, hộp tiếp đạn hình trụ tròn, kiểu ổ xoay tròn, trên thân súng dập số (0819000005), tổng chiều dài khẩu súng là 17cm; 01 (một) viên kim loại hình trụ (dạng viên đạn) dài 0,9cm, đường kính 0,5cm; 01 ( một ) viên kim loại đã biến dạng không rõ hình thù, dài 0,9cm. Đây là khẩu súng là của Nguyễn Văn Đ sử dụng sáng ngày 21/12/2022, còn 02 viên đạn là do Đ bị bắn vào sáng gày 21/12/2022; 01 (một) con dao rựa phát dài 01m. Đây là hung khí Hứa Thanh P giao nộp; 01 (một) thanh kim loại, tiết diện vuông. Đây là hung khí Hoàng Nguyễn Trung N2 giao nộp; 01 (một) con dao rựa phát dài 90cm. Đây là hung khí Đinh Huy H giao nộp; 01 con dao rựa dài 87,5cm, cán dao làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm; 01 (một) con dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm.

+ Áp dụng điểm Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự vật chứng có liên quan 02 (hai) USB. Đây là chứng cứ trực tiếp có liên quan đến vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên lưu giữ tại hồ sơ vụ án gồm: 01 (một) thiết bị lưu trữ USB màu đen bên trong có chứa đoạn video-clip hai nhóm rượt đuổi đánh chém và bắn nhau sáng ngày 21/12/2022; 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng 01 USB màu trắng có dung lượng 16GB, hiệu DTSE9 chứa dữ liệu về vụ việc đánh, chém nhau tối ngày 01/5/2023 tại nhà D1.

[8] Các vấn đề khác:

* Đối với hành vi của những người liên quan trong vụ án gồm:

Về hành vi sử dụng súng hơi (thuộc danh mục súng săn) của Trương Minh Q, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị UBND huyện Đ xử phạt hành chính theo thẩm quyền. Còn hành vi gây thương tích của Q đối với Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26 ngày 06/11/2023, xử phạt 6.500.000 đồng đối với Q về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Đối với hành vi sử dụng công cụ hỗ trợ gây thương tích cho Đinh Huy HHoàng Nguyễn Trung N2 của Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25 và 27 ngày 06/11/2023, xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách

nhiệm hình sự” và xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”.

Đối với các đối tượng gồm: 01 người có tên thường gọi là Cu E và 03 người đi cùng Cu E tham gia đánh nhau cùng Đức M vào đêm 21/12/2022; Trần Văn V2 – là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô biển số 15A-837.73 mà Nguyễn Văn Đ đã sử dụng để chở đồng bọn đi gây án, do trong quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi cũng như địa chỉ cụ thể của các đối tượng này, chưa triệu tập được để làm rõ hành vi liên quan nên Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Hà Việt D1 không thuộc trường hợp “Che giấu tội phạm” hoặc “Không tố giác tội phạm” quy định tại các Điều 18, 19 và 389, 390 Bộ luật hình sự nên không xử lý.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét quan điểm, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đinh Huy H, Hứa Thanh P, Ngô Phúc Đ2, Trương Minh Q, Hoàng Nguyễn Trung N2Lê Hữu Trọng phạm t “Gây rối trật tự công cộng”.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 10/02/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Trương Minh Q. Xử phạt bị cáo Trương Minh Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/6/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53; các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Lê Hữu T2. Xử phạt bị cáo Lê Hữu T2 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/6/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Hứa Thanh P. Xử phạt bị cáo Hứa Thanh P 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/6/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
  • các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Đinh Huy H. Xử phạt bị cáo Đinh Huy H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/6/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Nguyễn Trung N2. Xử phạt bị cáo Hoàng Nguyễn Trung N2 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 65 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Ngô Phúc Đ2. Xử phạt bị cáo Ngô Phúc Đ2 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Phúc Đ2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Giao bị cáo Hoàng Nguyễn Trung N2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng trong vụ án:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng màu đen, dài 73,5cm, phần cao nhất của súng là 26cm, phần đuôi của khẩu súng được gắn một bình hơi dạng khí nén bằng kim loại, phần phía trên của khẩu súng được gắn một ống nhòm bằng kim loại, dài 33,5cm, trên thân khẩu súng in nhãn hiệu AIRFORCE; 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, hộp tiếp đạn hình trụ tròn, kiểu ổ xoay tròn, trên thân súng dập số (0819000005), tổng chiều dài khẩu súng là 17cm; 01 (một) viên kim loại hình trụ (dạng viên đạn) dài 0,9cm, đường kính 0,5cm; 01 ( một ) viên kim loại đã biến dạng không rõ hình thù, dài 0,9cm; 01 (một) con dao rựa phát dài 01m, phần cán dao làm bằng gỗ tròn dài 70cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 30cm, một cạnh của lưỡi dao được mài sắc; 01 (một) thanh kim loại,

tiết diện vuông, thiết diện vuông 3cm x 3cm x 3cm x 3cm, rỗng bên trong, dài 149,5cm; 01 (một) con dao rựa phát dài 90cm, cán làm bằng gỗ dài 50cm, lưỡi dao dài 40cm; 01 con dao rựa dài 87,5cm, cán dao làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm, một cạnh sắc, mũi dao bằng, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 5,7cm; 01 con dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, một cạnh sắc, mũi dao nhọn, trên thân lưỡi dao có dòng chữ PM0702, cán dao bằng gỗ màu đen dài 13,5cm, phần giữa cán dao làm bằng gỗ màu đen, đầu và đuôi cán dao làm bằng kim loại màu trắng, phần rộng nhất của con dao dại 4,5cm.

(Hiện các vật chứng (tang, tài, vật) trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17-11-2023).

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 (một) thiết bị lưu trữ USB màu đen bên trong có chứa đoạn video-clip hai nhóm rượt đuổi đánh chém và bắn nhau sáng ngày 21/12/2022; 01 phong bì được niêm phong bên trong đựng 01 USB màu trắng có dung lượng 16GB, hiệu DTSE9 chứa dữ liệu về vụ việc đánh, chém nhau tối ngày 01/5/2023 tại nhà D1.

(Hiện các vật chứng ( tài, vật) trên đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03-01-2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai và Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai).

3. Về kiến nghị: Trong vụ án này ngoài các bị cáo bị bắt và đã xét xử thì còn có một số đối tượng khác có trực tiếp tham gia gây rối gồm: 01 người có tên thường gọi là Cu E và 03 người đi cùng Cu E tham gia đánh nhau cùng Nguyễn Văn Đ vào đêm 21/12/2022; Trần Văn V2 – Là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô biển số 15A-837.73 mà Nguyễn Văn Đ đã sử dụng để chở đồng bọn đi gây án, do trong quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi cũng như địa chỉ cụ thể của các đối tượng này, chưa triệu tập được để làm rõ hành vi liên quan nên Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục xác minh nên cần tách ra. Do vậy, kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào bắt được thì điều tra, khởi tố, xét xử bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đinh Huy H, Hứa Thanh P, Ngô Phúc Đ2, Trương Minh Q, Hoàng Nguyễn Trung N2Lê Hữu T2 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7. 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
  • - TAND huyện Bảo Lâm (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Bảo Lâm (01);
  • - VKSND huyện Đạ Huoai (01);
  • - Công an huyện Đạ Huoai (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Đạ Huoai (01);
  • - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai (02);
  • - UBND xã Đạ Ploa (01);
  • - UBND xã Hà Lâm (01);
  • - UBND thị trấn Đạ M'ri (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (28);
  • - Bị cáo (07);
  • - Người bị hại (04);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Án văn (03);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lập

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa xử giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger