TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-01-2024 V/v ly hôn giữa bà Hạnh và ông Thức | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Thừa
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tùng Linh- Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 380/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2023/QÐST-HNGĐ và Thông báo đưa vụ án ra xét xử số 398/2023/TBXXST-HNGĐ ngày 15/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. Có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Khu H đường N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 06/7/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông T xác lập hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C ngày 14/4/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T có người phụ nữ khác, bà khuyên can nhưng ông T không nghe nên vợ chồng mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Xét thấy, vợ chồng không thể đoàn tụ nên bà H xin ly hôn. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Bảo N, sinh ngày 13/10/2011, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu toà án giải quyết. Về nghĩa vụ chung: Không có.
Bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt, vụ kiện không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Bà H xin ly hôn với ông T và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Ông T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà H được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Bảo N, sinh ngày 13/10/2011 cho bà H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn khởi kiện của bà H về việc yêu cầu ly hôn với ông T thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại Ấp C, xã T, huyện C, TP Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ông T là bị đơn, được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T xác lập hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, xác định vợ chồng không thể hàn gắn nên bà H xin ly hôn. Quá trình tố tụng, ông T vắng mặt, không có ý kiến về việc xin ly hôn của bà H. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông T đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân được một thời gian dài. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông T.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung đang sống cùng với bà H, ông T không có ý kiến tranh chấp quyền nuôi con, bà H yêu cầu được giành quyền nuôi con chung. Xét thấy, để ổn định cuộc sống cho con chung và theo nguyện vọng của cháu N tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 17/11/2023 thì cần giao cháu N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về chia tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về nghĩa vụ chung : Không có.
[3] Về án phí: Bà H phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Bảo N, sinh ngày 13/10/2011 cho bà H nuôi dưỡng.
Ghi nhận bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông T không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì bà H có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom của ông T.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
- Nghĩa vụ trả nợ: Không có.
- Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng bà H đã nộp theo biên lai thu số 0004701 ngày 23/10/2023 thành tiền án phí.
Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
