Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-01-2024

V/v tranh chấp về hôn nhân và
gia đình ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Võ Thị Điệp.
  2. Ông Trần Văn Bé Hai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 552/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 595/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 603/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số B, đường V, tổ A, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Anh Cao Văn H1, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị H có mặt, anh H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị Hoài H là nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 chung sống với nhau vào năm 2006, vợ chồng có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ngày 07/6/2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cự cãi, anh H1 đi uống rượu về là chửi chị H. Chị H và anh H1 đã không còn sống chung từ năm 2011 đến nay, trong thời gian sống xa nhau hai bên không có hàn gắn tình cảm. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Cao Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/9/2010. Hiện con chung đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Văn H1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ gồm:

  • Căn cước công dân tên Nguyễn Thị Hoài H (Bản photo chứng thực).
  • Giấy chứng nhận kết hôn Cao Văn H1 – Nguyễn Thị Hoài H, đăng ký ngày 07/6/2010 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (Bản chính).
  • Giấy khai sinh tên Cao Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/9/2010 (Bản sao).
  • Xác nhận thông tin về cư trú ngày 31/7/2023 (Bản chính).
  • Văn bản ý kiến ngày 29/11/2023 của cháu Cao Nguyễn Ngọc L Đang (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Hoài H có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con với anh Cao Văn H1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con”.

- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Cao Văn H1 là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Cao Văn H1 là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh H1 vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hoài H. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Cao Văn H1 là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 sống chung với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp ngày 07/6/2010, do đó hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.

Theo chị H trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau, chị H và anh H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị H và anh H1 không còn chung sống với nhau cũng như không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Cao Văn H1 tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hoài H. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H1 là có căn cứ để chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị H và anh H1 là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị H.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Cao Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/9/2010. Hiện con chung đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Do anh H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Xét từ khi chị H và anh H1 sống xa nhau đến nay, chị H là người trực tiếp nuôi cháu Linh Đ. Bên cạnh đó, theo bản tự khai thì con chung Cao Nguyễn Ngọc L Đang có nguyện vọng sống chung với mẹ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “…..; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Do đó, để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu Linh Đ, cần tiếp tục giao cháu L Đang cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.

Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Chị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh H1 không có ý kiến về tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh H1 không có ý kiến về nợ, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoài H.
  • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài H được ly hôn với anh Cao Văn H1.

  • - Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoài H được nuôi dưỡng con chung tên Cao Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/9/2010. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.

  • Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004633 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Như vậy chị Nguyễn Thị Hoài H đã nộp xong tiền án phí.

  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Cao lãnh;
  • - CCTHADS huyện Cao Lãnh;
  • - TAND Tỉnh;
  • - UBND xã Phương Trà, HCL, ĐT;
  • - Lưu: HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger